Họ Tô thôn Kim Sơn, Xã Lê Thiện, Huyện An Hải, thành phố Hải Phòng

LBBT:Căn cứ vào tư liệu có từ năm 2000, nay có thay đổi một số liệu.

 

Theo gia phả viết bằng chữ Hán dịch ra chữ quốc ngữ tháng 10 năm 1960, do ông thầy chữ nho địa phương biên dịch, thì: Cụ Thủy tổ của Chi họ Tô thôn Kim Sơn tên là Tô Quý Điền, cùng hai người con là: Tô Quý Đại và Tô Quý Đằng từ tỉnh Thanh di chuyển đến định cư tại làng Xen, phủ Kinh Môn, Hải Dương (nay là thôn Kim Sơn, xã Lê Thiện, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng) từ năm 1572. Nghề nghiệp: là cấy lúa nước và lợi dụng vùng nước rộng lớn có nhiều cây sú vẹt để phát triển thêm nghề chăn nuôi vịt và đánh bắt thủy sản.

Sau 10 năm định cư, vào năm 1582, cụ Thủy tổ Tô Quý Điền lâm bệnh nặng, có cử người con thứ hai là Tô Quý Đằng trở về tỉnh Thanh tìm báo cho gia tộc, nhưng cụ Tô Quý Đằng không thấy trở lại. Cụ Thủy tổ Tô Quý Điền đã tạ thế vào ngày 24 tháng 11 năm 1582, an táng tại làng Xen, phủ Kinh Môn, Hải Dương, giao toàn bộ tài sản và gia cư cho người con trai là Tô Quý Đại kế tục.

Cụ Tô Quý Đại tiếp nhận tài sản và phát triển dòng họ, song vì muộn về đường con, hiếm về con trai thừa kế đã lấy 3 vợ, mãi đến năm 52 tuổi mới sinh được người con trai là Tô Quý Thượng thừa kế.

Cụ Tô Quý Thượng cũng chỉ sinh được một người con trai thừa kế là cụ Tô Quý Sai.

Cụ Tô Quý Sai cùng vợ là cụ Mạc Thị Liên (nay họ Mạc chuyển thành họ Hoàng) sinh được 5 người con trai, do biến động chính trị địa phương vào một đêm ba người con trai (con trai thứ 2, thứ 3, thứ 4), cùng vợ con rời quê ra đi, theo gia phả để lại các cụ đã định cư bốn nơi:

+ Thôn Quỳnh Hoàng,huyện An Dương, Kiến An (nay là thôn Quỳnh Hoàng, xã Lam Sơn, huyện An Hải, Hải Phòng).

+ Huyện Cát Hải, Hải Phòng.

+ Núi Đối, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

+ Đời thứ 4 là cụ Tô Quý Sai chỉ còn ngành trưởng là cụ Tô Quý Sảng và ngành út là cụ Tô Quý Sảnh ở lại làng Xen (thời kỳ thập niên Minh Mạng).

Suốt từ đời thứ 5 đến đời thứ 8, ngành trưởng và ngành út chỉ sinh được một người con trai kế tục cho đến nay tại địa phương, đã có 11 đời tính từ cụ Thủy Tổ Tô Quý Điền, gồm 12 gia đình và 47 nhân khẩu (nội tộc). Nếu tính ngành trưởng ngoại tộc đến nay là 14 đời.

Căn cứ vào sơ đồ gia phả, có thể nhận xét chung về chi họ:

1. Các đời đều muộn về đường con và hiếm con trai thừa kế.

2. Từ đời 5 đến đời thứ 8, do hoàn cảnh biến động về chính trị, kinh tế nên thất lạc quá nhiều.

3. Do dân tộc Việt Nam chuyển qua nhiều giai đoạn quy định về chữ viết Hán Nôm, quốc ngữ, nên từ đời 7 chuyển sang đời thứ 8, cụ Tô Văn Bài mất khi 63 tuổi, bàn giao lại cho con là ông Tô Văn Cây, lúc đó mới 13 tuổi dẫn đến gia phả không được bảo quản tốt, nên bị rách nát phải nhờ thầy đồ dịch lại vào năm 1960 (khi làm lại nhà).

Cho đến nay chi họ Tô thôn Kim Sơn, xã Lê Thiện, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng đã làm được:

1. Xây dựng được gia phả và nghĩa trang dòng họ Tô.

2. Năm 1952, tìm được người thừa kế nghành út đời thứ 7 từ Bắc Ninh trở về địa phương là Tô Văn Căm.

3. Năm 1996, tìm được ngành 2 từ Quỳnh Hoàng, xã Lam Sơn, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng về nhận họ.

Nguyện vọng của chi họ Tô thôn Kim Sơn, xã Lê Thiện, An Hải, thành phố Hải Phòng:

+ Nhất trí với kết luận của Ban Liên lạc Họ Tô Việt Nam cũng như theo gia phả của chi họ Tô để lại là: Họ Tô dù ở đâu và đệm bằng bất cứ chữ gì, là: Quý, Đình, Văn,… cũng đều là họ Tô cùng một dòng máu.

+ Mong Ban Liên lạc dòng họ Tô toàn quốc nghiên cứu gia phả của nhiều chi họ, cho biết các chi tìm lại gốc xuất phát để biết cụ Tổ họ Tô gốc tại đâu và tạo điều kiện cung cấp tài liệu cho chi họ chúng tôi tìm về gốc chi tại tỉnh Thanh Hóa, cũng như tìm lại các ngành đã thất lạc tại Cát Hải, Núi Đối - Kiến Thụy.

Trưởng tộc

TÔ VĂN CÂY (Đời thứ 8)