Họ Tô làng Yên Khê (Dền Khê) Xã Đại Yên, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

Bình Ngô đại cáo viết rằng :

Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh lây muôn dặm!

Tốt Động thây nằm đầy nội, để thối nghìn thu!

Lý Lượng là sâu mọt dân, ta đã đem phanh xác!

Trần Hiệp là tay chân quân giặc, cũng bị bêu đầu!

Vương Thông dẹp loạn mà nơi cháy lại cháy thêm.

Mã Anh gỡ đòn mà kẻ giận càng giận dữ

Làng Yên Khê hay còn gọi là Dền Khê, An Khê, Triền Khê là một làng nằm biệt lập với các làng của các xã xung quanh, bao quanh làng là đồng ruộng thuộc quyền quản lý của làng, với diện tích khoảng trên 500 mẫu Bắc Bộ. Phía Bắc làng giáp con đường Anh Trỗi (trước đây, xưa, con đường này gọi là đường Thượng đạo hay còn gọi là đường Lai kinh - bởi, con đường này xưa là đường từ xứ Thanh về kinh thành Thăng Long. Cánh đồng được lưu danh trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi:“Tốt Động thây nằm đầy nội, để thối nghìn thu!”là cánh đồng nằm trên đất của làng Dền Khê xưa (làng Yên Khê ngày nay) - Tốt Động: tên nôm gọi là làng Ré. Đây là vùng đất thấp, lầy lội. Cánh đồng Tốt Động là đồng chiêm trũng, rất lầy lội.

Bản đồ trận chiến thắng Tụy Động 

Hai chi họ: chi Giáp và chi Ất của Họ Tô làng Yên Khê, hiện nay còn giữ được cuốn gia phả viết bằng chữ Hán, gia phả của chi Giáp (chi trưởng) viết năm Bảo Đại thứ 13 (1938) và của chi Ất (chi thứ) viết năm Khải Định thứ 10 (1925); sau này một số con cháu thuộc các chi, ngành Họ Tô Yên Khê ở các đời thứ 8 sao chép và tiếp tục bổ sung cho các đời sau này vào gia phả của Chi, ngành mình.

Gia phả viết: Cụ Tổ họ Tô của làng Yên Khê tên là Tô Thế Vinh, hiệu Tô Qúy Công, cụ được phong chức Đội trưởng thời Lê, cụ Tổ họ Tô về cư trú làng Dền Khê vào thời Lê Trung Hưng (ngày húy nhật của cụ Tổ họ Tô làng Yên Khê là ngày 17-3 âm lịch), còn cụ Tổ họ Tô làng Yên Khê ở đâu về và năm về Yên Khê thì trong gia phả không ghi - nhưng có thể khẳng định rằng họ Tô về cư trú tại làng Dền là khoảng trên 350 năm trước; theo di chỉ khảo cổ học: đồ đá (được khai quật năm 1966 tại Đồng Dền - cánh đồng của làng giáp với đường Lai kinh, đang được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử) thì cách đây khoảng trên 2000 năm đã có cư dân sinh sống ở làng Yên Khê.

 Theo gia phả, thì Cụ Tổ Tô Thế Vinh, hiệu Tô Qúy Công sinh được 2 người con trai: con cả đặt tên là Tô Đức Thọ (là tổ Chi Giáp), con thứ đặt tên là Tô Thế Cầu (là tổ Chi Át). Cụ đời 2 (chi Giáp): Tô Đức Thọ, tự Đắc, hiệu Phúc Đễ đỗ Cống sỹ thời Lê. Hiện cả hai Chi Giáp và Chi Ất đều xây dựng được nhà thờ riêng cho từng chi; Tô Văn Quỳnh là Trưởng chi Giáp; Tô Văn Dũng (Cần) là Trưởng chi Ất.

Theo gia phả, thống kê chi tiết các đời họ Tô Yên Khê:

Đời thứ nhất: Cụ Tổ họ Tô Yên Khê: Tô Thế Vinh hiệu Tô Qúy Công

Đời thứ

Chi Giáp

Chi Ất

Hai

Đức Thọ

Thế Cầu

Ba

Phúc Chính

Lế, Ngạn, Nhân

Thế Nam, Thế Hương (chết yểu)

Thanh, Liêm, Bình, Huệ, Hào, Lan, Phượng, Nhiễu

Năm

Văn Hiếu (gọi là Cụ Xã)

Ỷ, Hiến, Bản, Trang, Thân, Thâu

Sáu

Văn Chấn, Tuyển, Nhũ,

Cường, Cương, Khương, Khương, Lan, Đa…

Bảy

Văn Trinh, Tình, Nguyên, Hanh, Lữ, Đóm, Tích

Diệu, Bống, Chí, Biên, Kê…

Tám

Phú, Hữu, Thịnh, Vịnh, Tuy, Hy, Chế, Độ, Quyền, Bảng, Duyệt, Khiết, Yết, Hồng (Liệt sỹ), Khanh, Đanh, Kính, Thư, Sách, Văn, Đồng, Bộ Việt

Tại, Tân, Quần, Bỉnh, Đạt, Vĩnh, Sóc, Thúc…

Chín

Nhiễu, Tài, Chung, Soạn, Ngâm, Thụy, Hỹ, Trường (Liệt sỹ), Thế, Đệ, Thú (Liệt sỹ), Thảng (Liệt sỹ), Đảng, Hân, Cần (Liệt sỹ), Toàn (Liệt sỹ), Kim, Công (Liệt sỹ), Khánh, Hùng, Dũng (Liệt sỹ), Kiện, Tiến (Liệt sỹ), Tự, Bào, Bắc…

Hỷ, Phái, Thuận, Thùy, Thủy, Chiến, Nhân, Qúy, Ích, Dật, Sáng, Sức, Xuân (Liệt sỹ), Thu, Nhận, Nhậm, Duân, Huấn, Ưng, Úc…

Mười

Biểu (Liệt sỹ), Chuông (Liệt sỹ), Boong, Chúc (Liệt sỹ), Mạnh, Sử, Tuân, Đoan, Vỹ, Thử, Bằng, Ban (Liệt sỹ), Đăng, Thiết, Thi, Minh, Đúc, Năng, Quang, Kiên, Quyết, Hưng, Tráng, Khoa, Tuyến, Tuấn, Dương, Tâm, Hựu…

Huân, Doanh, Nghinh (Liệt sỹ) Thị, Ước, Dược, Thanh (Liệt sỹ), Lịch, Trị, Kiển, Quế, Luật, Oánh, Ngọc…



Hiện Họ Tô làng Yên Khê đã đến đời thứ 13.

Dưới thời phong kiến, họ Tô làng Yên Khê xưa là một họ thành đạt; theo gia phả và lời truyền lại của các cụ, thì cụ Khởi tổ Tô Thế Vinh dưới Triều Lê đã giữ chức vụ Đội trưởng; đến cụ đời thứ 2: Cụ Tô Đức Thọ, tự Đắc, hiệu Phúc Đễ đã đỗ Cống sinh triều Lê. Thời phong kiến, theo phân cấp làng như một xã, làng Yên Khê có Lý trưởng, các Lý trưởng của làng Yên Khê thời xưa đều do người Họ Tô nắm giữ. Theo gia phả và lời truyền lại của các cụ, thì con cháu họ Tô làng Yên Khê là con cháu của các cụ Nho học.

Hiện tại ở làng Yên Khê có 6 dòng họ cùng sinh sống là họ: Tô, Nguyễn, Trần, Lý, Hoàng, Lương (họ Đặng thì làm con nuôi họ Tô, họ Lương và họ Hoàng là con rể họ Tô); theo các cụ cao tuổi kể lại, thì về cùng cư trú và sinh sống với họ Tô ở làng Yên Khê thì chỉ có họ Nguyễn, Trần, Lý; nhưng có điều lạ là chỉ với trên 350 năm về cư trú tại làng Yên Khê cùng với họ Trần, Lý, Nguyễn, hiện người họ Tô ở làng Yên Khê chiếm tới 80% dân số của làng, với khoảng gần 1.000 nhân khẩu (xã Đại Yên có số dân khoảng gần 6.000 khẩu). Và điều đặc biệt nữa là, từ xưa các họ Trần, họ Nguyễn lại cư trú ở giữa làng (gọi là ngõ Giữa), còn phía Bắc làng là Chi Ất cư trú (gọi là ngõ Chuyền), phía Nam làng là chi Giáp cư trú (gọi là ngõ Đông). Những gia đình Họ Tô làng Yên Khê sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, như: trồng lúa, ngô, khoai, cà, đậu, dưa chuột, các loại rau và chăn nuôi gia cầm, gia súc…

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, làng Yên Khê có 20 Liệt sỹ, thì riêng họ Tô có 17 Liệt sỹ (3 Liệt sỹ chống Pháp và 14 Liệt sỹ chống Mỹ). Họ Tô làng Yên Khê, hiện có 1 tiến sĩ, 5 thạc sỹ, 30 cử nhân; sỹ quan quân đội: có 1 đại tá, 1 thượng tá, 1 trung tá; công an: có 1 thượng tá, 1 thiếu tá; có 1 Phó Vụ trưởng, 2 Phó Giám đốc cấp Sở.

Họ Tô làng Yên Khê, được sự hướng dẫn và giúp đỡ của Ban Liên lạc Họ Tô Việt Nam và Ban Liên lạc Họ Tô Hà Nội, sẽ cố gắng sưu tầm tư liệu và viết tiếp gia phả của họ làm tài liệu giáo dục con cháu giữ gìn và phát huy truyền thống của một chi họ khá nổi tiếng vùng Hà Đông xưa và Hà Nội ngày nay.