Thiếu tướng TÔ KÝ – người con của 18 thôn vườn trầu

Năm 1957, Tô Ký là Tư lệnh kiêm Chính ủy Sư đoàn 338; 1962 là Chánh án Tòa án Quân sự trung ương. Giai đoạn 1967-10/1975, ông là Phó Chính ủy rồi Chính ủy Quân khu Hữu Ngạn. Tướng Tô Ký được ngợi ca là “vị tướng trung kiên, nghĩa hiệp” – một trong tam kiệt của Hóc Môn, Củ Chi: “Tô Ký, Nguyễn Hồng Lâm và Hồ Thị Bi (đại tá)”

(ĐVO) Xây dựng Sư đoàn 338 và Quân khu Hữu Ngạn

Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc (1954), ông được giao nhiệm vụ cùng một số đồng chí khác tổ chức lại bộ đội Nam Bộ tập kết, giữ lực lượng cốt cán ở lại xây dựng thành các tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn để sẵn sàng trở về Nam chiến đấu. 
Sau một thời gian phụ trách công tác giao thông quân sự ở Bộ Tổng tham mưu, ông làm chỉ huy sư đoàn 338, một trong hai sư đoàn bộ đội Nam Bộ ở miền Bắc lúc ấy, từ 1959-1960, ông được giao nhiệm vụ trực tiếp, tổ chức chi viện cho miền Nam.
Ở sư đoàn 338, ông đã quán triệt hai nhiệm vụ xây dựng quân thường trực và tham gia sản xuất.

 Trong 2 năm 1959-1960, sư đoàn đã xây dựng được 7 nông trường: Sông Bôi, Ba Vì, 23/9, 20/7, Xuân Mai, Sao Vàng và Lam Sơn.

 Năm 1959, các nông trường thu được hơn 3 triệu tấn sản phẩm, trong đó có hơn 1 triệu tấn cây công nghiệp và gần 2 triệu tấn lương thực.

 Năm 1960, Lữ đoàn 338 (bộ phận thường trực của sư đoàn 338) nhận nhiệm vụ có trách nhiệm toàn diện xây dựng, quản lý tất cả các lực lượng cho nhu cầu “Kế hoạch đặc biệt” của Tổng quân ủy và Bộ Quốc phòng.

 Cụ thể, lữ đoàn có nhiệm vụ đào tạo cán bộ, chiến sĩ và nhân viên chuyên môn trinh sát, đặc công, pháo binh, thông tin, quân giới, quân y…. tức là các binh chủng và ngành thiết yếu cho chiến trường phía Nam.

 Tô Ký đã triển khai khẩn trương kế hoạch này với việc tập trung đào tạo cho 4.000 người. Đến cuối 1966, khi ở lữ đoàn 338 có đến 3 khung trung đoàn huấn luyện tăng cường, ông được bổ nhiệm là Chính ủy Quân khu Hữu Ngạn.

Quân khu Hữu Ngạn lúc này gồm các tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Hà Tây (Hà Đông và Sơn Tây) và Thanh Hóa, được giao nhiệm vụ hết sức quan trọng: sẵn sàng chiến đấu và đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, hết lòng dốc sức tăng cường lực lượng cùng quân dân miền Nam, xây dựng ba thứ quân, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

 Khi đó, ông cùng bộ tư lệnh Quân khu, lãnh đạo các đơn vị đạt nhiều chiến công ghi nhớ. Quân khu đã bắn rơi 1.524 máy bay các loại của đế quốc Mỹ (có 10 B-52, 2 F-111), tuyển chọn 1,2 triệu thanh niên nhập ngũ, xây dựng và chi viện cho miền Nam ruột thịt 5 sư đoàn, 29 trung đoàn…

 Là hậu phương, Quân khu đã tiếp nhận hàng chục vạn thương bệnh binh từ chiến trường chuyển ra. Ông đã chủ trương tổ chức các đoàn theo từng tỉnh, đoàn thương bệnh binh nữ, đoàn thương bệnh binh nặng… Ông còn đề nghị Nhà nước xây dựng các trường bổ túc văn hóa, dạy nghề… cho thương bệnh binh sau khi đã phục hồi vào học…

Hết lòng với người lính

Từ tháng 11/1975 đến tháng 11/1978, Tướng Tô Ký là phái viên của Tổng cục Chính trị ở phía Nam.

 Từ tháng 12/1978 đến năm 1988, 10 năm liền, ông công tác ở Tổng cục Dầu khí, ngành công nghiệp non trẻ nhưng đầy triển vọng của nước ta. Ông nghỉ hưu và tham gia Hội Cựu chiến binh Việt Nam kiêm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh TP HCM khóa 1.

 Ở cương vị này, ông đã hết lòng vì công việc Hội và chăm lo giáo dục bồi dưỡng cho thế hệ trẻ. Để tránh cho hội viên (khi Hội mới thành lập) những băn khoăn, những lo lắng…, ông luôn tâm sự với anh em: “Phần đông hội viên Cựu chiến binh là cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên cựu chiến binh phải tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng”.

 Biết rằng những người lính già sau cả đời trận mạc, tuổi cao, sức khỏe kém dần, ông rất quan tâm đến cuộc sống thường ngày, những trăn trở của hội viên. Ông lắng nghe dư luận, trao đổi chân tình.

Việc hết lòng quan tâm đến người lính có ở trong ông đã nhiều chục năm. Đấy là những ngày làm Chính ủy sư đoàn 338, khi người lính tham gia ngày đêm làm đê sông Đuống ở Từ Liên, Hà Nội. Ngày nào ông cũng có mặt trên công trường, ra tận mặt đê, xuống bếp ăn của từng đơn vị thi công để nhắc nhở trách nhiệm nuôi quân của cán bộ, thăm cán bộ chiến sĩ đau ốm. Nhiều đêm ông thức trắng trên công trường.

Thương đồng đội đi liền với gắn bó máu thịt cùng nhân dân. Tết Kỷ Mão 1999, ông đến thăm Huyện ủy Hóc Môn, nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Ở vị trí lãnh đạo, làm gì thì làm, các đồng chí cũng phải lấy cái tâm làm gốc, lấy truyền thồng làm nền…”.

Đồng đội và nhân dân nói về Tướng Tô Ký:

 Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang Hồ Thị Bi, người đồng đội, mấy chục năm, thương tiếc vô hạn khi nghe ông qua đời, nói: “Cha mẹ sinh ra, kiếp người nô lệ, được sự dìu dắt của Đảng, được Chi đội 12 và anh Ba Tô Ký giáo dục, tôi mới trở thành một con người thực sự”. (Bà Hồ Thị Bi được Bác Hồ phong tặng “Nữ kiệt miền Đông”).

Ông Sáu Liêm, Bí thư Huyện ủy huyện Hóc Mônviết: “Quê hương Hóc Môn rất tự hào vì đã sản sinh ra được một người con trung dũng như đồng chí Thiếu tướng Tô Ký”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp:Người con trung hiếu của quê hương khởi nghĩa Nam Kỳ - “Anh Tô Ký ra đi ở tuổi 82, để lại tấm gương trong sáng…. Anh là một người lãnh đạo và chỉ huy gương mẫu, đầy tinh thần trách nhiệm, miệng nói tay làm, sâu sát chiến sĩ, gần gũi nhân dân, không ngại gian khổ, không sợ khó khăn, đem hết tinh thần và nghị lực để làm tròn nhiệm vụ.

Anh đặc biệt giàu lòng nhân ái và tinh thần nghĩa hiệp, sẵn sàng giúp đỡ người hoạn nạn khó khăn, quan tâm đến những bất hạnh và khổ đau của người khác, đối xử trọn vẹn tình với đồng chí và bạn bè.

Đối với tôi, anh là một người bạn chiến đấu gần gũi và thân thiết, tình nghĩa thủy chung, … nhớ mãi hình ảnh trong sáng của anh…”.

                                                                                                          Dền Khê