Thiếu tướng Tô Ký, trong ký ức người vợ hiền


Đất Hóc Môn – mảnh đất 18 thôn vườn trầu tự hào vì có ông, một người con Anh hùng. Vợ ông, bà Nguyễn Thị Cách cùng các con, các cháu cũng luôn tự hào về ông - một người chồng, một người cha, một người ông rất đỗi tuyệt vời.

Cuộc đời Thiếu tướng Tô Ký gắn liền với mảnh đất Hóc Môn – Củ Chi của đất Gia Định xưa, với 18 thôn vườn trầu lừng danh sử sách. Thiếu tướng Tô Ký tuổi Mậu Ngọ - 1918 nhưng khai sinh 1919. Nhà nghèo, học đến primaire thì Tô Ký phải nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình.

Nhưng bản tính cần cù hiếu học, ông vẫn vừa làm ruộng, vừa học chữ Hán của thầy Mười Lời, mong theo nghề thầy thuốc. Phong trào cách mạng bùng lên ở quê hương 18 thôn vườn trầu đã cuốn hút người thanh niên Tô Ký.

Ông tham gia vào phong trào thanh niên dân chủ và được kết nạp Đảng năm 1937. Đến năm 1939, ông bị địch bắt và bị giam tại khám lớn Sài Gòn, bị tòa tuyên án 1 năm tù và 3 năm đày biệt xứ vì tội phân phát truyền đơn cổ động đấu tranh.

Cha của Thiếu tướng Tô Ký là cụ Tô Nếp, một nhà cách mạng can đảm. Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, cụ Tô Nếp và 800 đồng chí cách mạng đã bị kẻ thù bắt và xỏ dây kẽm vào lòng bàn tay, đẩy xuống 4 chiếc xà lan, bí mật nhấn chìm vào nửa đêm trên sông Sài Gòn.

Khi người cha kính yêu bị hãm hại, Tô Ký đang bị giam cầm trong nhà tù địch. Quãng thời gian trước khi cha ông bị hãm hại, ông đã chứng kiến cảnh địch tra tấn dã man cha mình ở bót Catinat.

Nợ nước, thù nhà – những điều đó đã khiến Tô Ký càng quyết tâm đánh đuổi giặc thù, giành lại độc lập cho đất nước. Trong hai cuộc kháng chiến, Thiếu tướng Tô Ký đã lập được nhiều chiến công hiển hách, trở thành người Anh hùng đất Nam bộ, được nhân dân yêu mến.

Người bạn đời của Thiếu tướng Tô Ký là bà Nguyễn Thị Cách. Tính đến ngày 17/2/1999, khi Thiếu tướng Tô Ký qua đời, ông bà đã có 50 năm tình nghĩa vợ chồng thủy chung, son sắt.

Bà Nguyễn Thị Cách sinh ra trong một gia đình Nho giáo tiểu tư sản. Ba đời ông cố, ông nội và cha của bà đều là những người làm nghề dạy chữ Nho, làm thầy thuốc Bắc. Cả gia đình bà có truyền thống sống giản dị, nhân hậu, hay làm việc thiện.

Cha bà là cụ Nguyễn Văn Khương, thầy thuốc bắc ở huyện Hóc Môn, là người sống rất nhân ái, thường xuyên bốc thuốc miễn phí hoặc lấy giá rẻ cho dân nghèo. Cách mạng tháng Tám bùng nổ, bà Nguyễn Thị Cách tham gia vào tổ chức 'Thanh niên Tiền phong'.

Vợ chồng Thiếu tướng Tô Ký gặp nhau trong chiến khu, khi cả hai ông bà đều tham gia kháng chiến. Bà Nguyễn Thị Cách vẫn nhớ, mấy lần gặp đầu, có lần ông hỏi những chị em công tác ở văn phòng Phụ nữ Cứu quốc tỉnh Gia Định – cơ quan của bà:

'Hầm xương heo làm sao cho nước trong?', đa số chị em, kể cả bà đều không trả lời được, vì khi đó chị em bà đều ở tuổi thanh thiếu niên, chưa kịp lớn đã vào chiến khu nên có phần vụng về bếp núc. Chuyện đó sau này, bà nhớ lại vẫn ngượng mãi….

Gặp nhau từ năm 1946, nhưng vì điều kiện kháng chiến vất vả, những lần gặp ít ỏi, không chuyện trò được nhiều, nên mấy năm sau, ông bà mới chính thức tìm hiểu nhau. Năm 1948, Tô Ký và Nguyễn Thị Cách tình cờ được mời làm chứng cho đám cưới của vợ chồng hai người bạn.

Ông làm chứng cho chú rể, bà làm chứng cho cô dâu. Lúc đó bà mới 17 tuổi, đứng trước bàn thờ Tổ quốc, bà giơ tay thề:

'Với tư cách là Phó Đoàn trưởng Phụ nữ Cứu quốc quận Hóc Môn, tôi xin xác nhận chị Nguyễn Ngọc Hạnh là ủy viên tuyên truyền Ban Chấp hành Phụ nữ Cứu quốc quận Hóc Môn đến giờ phút này vẫn chưa có chồng, do đó hôm nay chị kết hôn là hợp lý, hợp pháp, tôi xin thề'.

Mọi người nghe bà tuyên thệ rất hùng hồn, đều cười trêu: 'Chưa chồng, biết cái gì mà làm chứng cho người ta'. Trước mặt ông, bà tự nhiên đỏ bừng mặt vì xấu hổ.

Được sự tác thành của các đồng chí ở Ủy ban Kháng chiến Hành chánh và Quận ủy Hóc Môn, tháng 3/1949, ông bà đã tổ chức lễ cưới tại vườn cao su Ông Huyện Hãnh, xã Phú Mỹ Hưng, Hóc Môn. Trước khi cưới, có người hỏi bà: 'Không sợ sao? Anh Tô Ký nóng tính lắm?'.

Mà đúng là ông nóng tính thiệt. Thế nhưng, sống với ông mấy chục năm, bà nhận ra ông là người chân thành, thẳng thắn, tốt bụng. Chuyện gì liên quan đến việc dân, việc nước, ông không hề nóng tính mà ngồi suy nghĩ rất lâu. Nếu có thiệt thòi gì cho bản thân, ông chỉ im lặng.

Nhiều khi bà thấy có những chuyện ông thiệt thòi quá, bà chịu không nổi bèn mở lời: 'Cái chuyện này em thấy sao kỳ quá…'. Mới nói được chừng đó ông đã gạt đi: 'Đã làm cách mạng thì ai cũng phải hy sinh… Đừng ham vật chất. Cái tình, cái nghĩa mới là quan trọng'.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, vợ chồng Thiếu tướng Tô Ký tập kết ra miền Bắc. Bà vẫn nhớ hồi đó cuộc sống khó khăn, ông làm việc ở Thanh Hóa, bà làm việc ở Hà Nội. Bà sống cùng hai chị em miền Nam ra tập kết trong một căn phòng rộng 18 mét vuông trong căn nhà trên phố Đường Thành, trước là một cái nhà xe, cửa nẻo ọp ẹp, không kín.

Bà sinh con vào giữa mùa đông Hà Nội rét buốt, có hôm chỉ còn 5- 6 độ C. Con gái bà – Tô Cẩm Liên đẻ được vài tháng đã bị gió lùa mặt mày tím ngắt, lạnh cả người. Hồi đó ông ở Thanh Hóa ra ghé thăm hai mẹ con, thấy con ốm liền chạy ra chợ Hàng Đào mua một cái chậu và một ít than đốt vội lên để sưởi ấm cho con gái.

Bà ngồi nhìn con mà ứa nước mắt, lo lắng không làm gì được. Trước khi sinh người con này, bà đã mất 2 người con vừa mới lọt lòng chưa được bao lâu hồi kháng chiến ở Nam Bộ, nên không điều gì ám ảnh bà bằng nỗi lo con bà bỏ bà đi lần nữa.

Ở Hà Nội, bà sinh lần lượt sinh hết người con này đến người con khác. Vừa phải một mình nuôi con, vừa phải học tập, nhưng bà rất quyết tâm.

Có đêm, bà phải vừa tranh thủ giặt quần áo, vừa nhìn vào cuốn sách học bài để theo kịp bài cô giáo giảng trên lớp. Bà luôn tự nhủ phải cố gắng học tốt, trước là để ông vui, sau là để phòng xa, nếu ông có bề gì, thì bà có thể đứng lên cáng đáng gia đình, nuôi con cái.

Năm 1966, ông được lệnh đi B. Lúc đó bà sắp sinh người con tiếp theo. Trước lúc đi ông hỏi: 'Tôi vào Nam công tác, má Cẩm Liên có ý kiến gì không? Ngoài này phải tự mình nuôi 4 con'. Bà trả lời: 'Mọi người như thế nào thì mình như thế nấy. Anh cứ yên tâm'.

Một buổi chiều cuối tháng 3/1966, bà tiễn ông xuống đến chân cầu thang thì ông không cho bà đi tiếp nữa, vì khi đó bà đang bụng mang dạ chửa, chỉ hơn chục ngày nữa là sinh con. Bà nghe lời ông, dừng lại, gượng cười dặn dò ông, nhưng nước mắt lưng tròng.

Ông lấy khăn tay lau nước mắt cho vợ, dặn dò: 'Nhiều chị em chồng đi chiến đấu trong Nam, đừng để người ta chê cười'. Nói rồi ông hôn tạm biệt các con, cười nói chào mọi người trong nhà và bước ra xe, lên đường vào miền Nam chiến đấu. Dẫu ông không nói ra, nhưng trong lòng ông cũng không ít lo lắng bộn bề, song vì việc nước, ông phải cố nén lại.

Ông đi B, mẹ con bà ở Hà Nội cơ cực đủ bề. Bà vừa đi học trường Thương nghiệp Mai Dịch vừa nuôi con vô cùng vất vả. Mỗi lần ra Hà Nội họp, ông thương bà vất vả, thường tự tay nấu và bưng ra cho mấy mẹ con vài miếng thịt kho, cá kho.

Ông xé từng miếng cá, miếng thịt đút cơm cho các con. Sau này khi đã về hưu, ông bà mới thực sự được chung sống dưới một mái nhà. Dù cuộc sống an nhàn hơn, ông vẫn nhường cho bà như cái thời gian khổ trước đây từng miếng trứng cá, ruột cá, từng miếng gan gà, phao câu gà, từng miếng cơm cháy vàng ruộm và thơm phức mà ông biết bà thích.

Là Tướng về hưu, nhưng ông không ngại đi trồng tiêu, đi làm cỏ, đi bón phân, bắt sâu. Ông cũng mình trần, đội nón lá phơi nắng như mọi người. Ít ai biết rằng đó là nguồn thu nhập đáng kể của vợ chồng ông bà, bù vào đồng lương hưu ít ỏi.

Dịp Tết năm Kỷ Mão 1999, ông đột ngột ra đi vào lúc 5h30 sáng ngày mồng 2 Tết, tức ngày 17/2/1999, khi chỉ còn chưa đầy 1 tháng nữa, ông bà sẽ kỷ niệm 50 ngày cưới, cùng nhau chia sẻ ngọt bùi suốt một quãng đời gian khó.

Từ sau khi ông mất, cứ đến 5h30 sáng – cái thời khắc của ngày mà ông ra đi, bà lại thao thức vì nhớ ông. Ông không còn, nhưng bà luôn tự hào về ông. Con cái, cháu chắt cũng rất đỗi tự hào vì có người một người cha, một người ông quá đỗi tuyệt vời. Như những câu thơ bà viết về ông:

Anh là người cách mạng

Cống hiến cả đời

Cho Tổ quốc non sông

Được cấp trên tín nhiệm

Được quần chúng mến yêu

Đời anh là như thế…

                                                                    Theo ĐS&PL