Tô Trung Từ với Nhà Trần hưng nghiệp

Tháng 7 năm 1209 xảy ra loạn Quách Bốc, vua Cao Tông phải bôn đào khỏi kinh thành(1). Trần Lý và Tô Trung Từ (em vợ Trần Lý) mang quân đánh Quách Bốc, bọn Quách Bốc thua, thế là thái tử Sảm thoát khỏi tay đám loạn quân. Trần Lý “đón vương tử Sảm về Lỵ Nhơn lập làm vua, tôn xưng là Thắng Vương. Thái tử lấy Trần Thị Dung (con gái Trần Lý) và lập “triều đình lưu vong”.  Tại đây, thái tử phong tước cho Trần Lý - tước Minh Tự và Tô Trung Từ được chức Điện Tiền Chỉ Huy sứ,  những người đi theo thì tùy công trạng mà phong.

Năm 1210, vua sai Đỗ Quảng đến đón Hoàng tử Sảm trở về Kinh đô, nhưng chưa được phép đem theo người vợ họ Trần. Ông cho đón Trần Thị Dung về cung lập làm nguyên phi. Lúc này, Tô Trung Từ được phong Thái úy phụ chính. Ngay năm đó, với tư cách một đại quan đầu triều, Tô Trung Từ đã đến Nguyễn Gia trang (nay thuộc làng Vị Khê, xã Điền Xá, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định), một vùng có địa thế đẹp và cư dân sầm uất từ thời Lý, cho xây dựng tại đây một hành cung để vua và hoàng tộc có thể nghỉ lại mỗi khi đi kinh lý. Ông còn cho xây một tòa thành kiên cố gần chợ Bình Giã và cho khơi một con sông, tạo thành con đường giao thông thuận tiện cho các thương lái có thể đi thuyền thẳng từ biển vào chợ (Dấu vết con sông này chính là sông Châu Thành nối sông Hồng với sông Ninh Cơ chảy qua Điền Xá). Theo truyền thuyết dân gian, Tô Trung Từ đã dạy dân địa phương nghề trồng hoa và cây cảnh.

Nguyễn Tự vốn là một bộ tướng của Tô Trung Từ, vì có hiềm khích giữa Nguyễn Tự với con rể của Tô Trung Từ là Nguyễn Đà La, Nguyễn Tự muốn giết Nguyễn Đà La rồi làm phản, Tô Trung Từ được Nguyễn Giai là tướng dưới quyền của Nguyễn Tự báo cho biết sự việc, Nguyễn Tự sợ bị hại nên bỏ trốn sang Quốc Oai, rồi gặp cơ hội và trở thành “đầu sỏ” ở vùng này.Khi Nguyễn Tự nghe Tô Trung Từ đã chết bèn trở về kinh sư, ban đêm dẫn đồng đảng ra đánh cắp hoá vật ở trong phủ của nhà vua.

Sau khi Trần Lý chết, toàn bộ binh lực của Trần Lý trao cho người con  thứ hai là Trần Tự Khánh (em của Trần Thừa, anh của Trần Thị Dung - là Nguyên phi của vua Lý Huệ Tông).

Trần Tự Khánh bị cậu ruột là Tô Trung Từ nghi ngờ, Trần Tự Khánh bèn kéo binh về lại Thuận Lưu và im lặng đợi thời cơ. Và khi Tô Trung Từ chết, cục diện tại kinh thành bắt đầu thay đổi.

Người con rể của Tô Trung Từ là Nguyễn Đà La, có lẽ cũng muốn ngồi vào vị trí của ông bố vợ, nhưng thấy mình khó mà làm chủ được toàn bộ binh lực của họ Tô (vốn đã có sự chia rẽ giữa các bộ tướng của Tô Trung Từ),… Nguyễn Đà La cùng với vợ của y là Tô Thị lên thuyền sang đạo Thuận Lưu để gặp tướng của Tô Trung Từ là Nguyễn Trinh thì bị Nguyễn Trinh giết rồi cướp lấy Tô Thị đem về. Tô Thị sai người tố cáo Nguyễn Trinh với Vua Lý Huệ Tông, Vua Lý Huệ Tônggiận Trinh phi nghĩa bèn âm mưu giết Trinh…. Vua bèn sai Tô Thị dụ Trinh để giết đi.

Một truyện khác kể rằng:Tô Trung Từ đã thành công và đạt mục đích là bắt được thái tử Sảm, hoàng tử Thẩm, hai công chúa và An Toàn hoàng hậu họ Đàm làm “con tin”,  sau đó kéo quân về kinh sư uy hiếp vua Cao Tông và  triều đình nhà Lý (1-1210). Anh em họ Trần là Trần Thừa và Trần Tự Khánh đã bị ông cậu lừa!

Tại kinh sư, thấy Huệ Tông mới lên ngôi lại còn trẻ, Tô Trung Từ lại càng lộng hành hơn nữa, nhưng bị quan lại triều đình nhà Lý chống cự, tuy nhiên họ đã bị , Tô Trung Từ đàn áp thẳng tay, một số những người này đã bị bắt và bị giết một cách thảm khốc. Một bộ tướng của Tô Trung Từ là Nguyễn Tự vì có hiềm thù với con rể của Tô Trung Từ là Nguyễn Đà La, Nguyễn Tự muốn giết ông con rể này rồi làm phản, chuyện bại lộ, Tô Trung Từ bèn “tước đoạt binh quyền của Nguyễn Tự, Nguyễn Tự sợ chạy sang Quốc Oai”. Sau một năm rưỡi thao túng kinh thành, Tô Trung Từ cũng đã bị tiêu diệt bởi quan lại nhà Lý: Bị chồng của Công chúa làm Quan nội hầu là Vương Thượng giết chết năm Tân Tỵ, tháng 6-1211.  

Những diễn tiến đã xảy ra từ lúc vua Cao Tông bôn đào khỏi kinh thành vì loạn Quách Bốc (tháng 7-1209). Họ Trần nhận thấy nhà Lý đã cực kỳ suy yếu, nên đã có ý muốn nhảy vào chính trường để đợi thời cơ. Trần Lý nghe ngóng và biết được những việc xảy ra trong cung đình nhà Lý qua bà vợ họ Tô, cũng như em của bà này là Tô Trung Từ (hậu duệ của quan đại thần Tô Hiến Thành). Dịp may tới tay họ Trần; khi thái tử Sảm chạy loạn về Hải Ấp, họ Trần không bỏ qua cơ hội hiếm có này. Muốn có được sự liên hệ với nhà Lý và cơ hội nhảy vào chính trường, Trần Lý đã gả con gái là Trần Thị Dung - người được viết là  “có  nhan sắc” cho Thái tử Sảm. Từ đây, liên hệ giữa họ Trần và họ Lý là Trần thị. Các biến cố dồn dập xảy ra, binh biến liên miên, người dân là những kẻ chịu nhiều tai ương hơn cả, nhà cửa cung điện tại kinh thành bị đốt tiêu tan, cả vùng bị dìm chết. Trần Tự Khánh là kẻ gây hoạ cho người dân nhiều nhất so với các “sứ quân” khác; liên tục trong 7 năm trời (khi Huệ Tông chưa về với Tự Khánh). Mãi tới lúc theo giúp nhà Lý, trong thời gian 7 năm; Trần Tự Khánh đã ra công đánh dẹp khắp nơi, họ Trần đã tạo được một sự ổn định tương đối cho đất nước tới khi nhà Trần lên ngôi.

Tô Duy Phương

Lời bàn:

Tham khảo

1–Theo Địa chí Nam Định

2– Nguyễn Gia Tường, 1972 (Trần Chu Phổ-1377 – 1388), Đại Việt Sử Lược (ĐVSL)

     Công trình nghiên cứu văn hóa Việt Nam

3– Tiền Biên, Ngô Thời Sỹ, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản in Nội các quan bản, mộc bản

      khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697). Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1998.

4– Quốc Sử Quán (1856-1881), Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục.

     Viện Sử Học dịch (1957-1960). Nhà xuất bản Giáo Dục (Hà Nội) 1998.

5– Lê Tắc, Công Đệ, Doãn Vượng, An Nam Chí Lược, Ủy ban dịch sử liệu Việt Nam,

     nhà xuất bản Viện Đại Học Huế-ấn bản điện tử

6– Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, - Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin-1999.

7– Phạm Văn Sơn, Việt Sử Tân Biên- Nhà xuất bản Đại Nam- Sàigon 1961.

8–Tiền Biên, Ngô Thời Sỹ, Đại Việt Sử Ký, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội,

     Hà Nội 1997.

9– Ngô Thời Sỹ, Việt Sử Tiêu Án,(dịch) Hội Việt nam ngiên cứu liên lạc văn hóa

    Á Châu, Nhà xuất bản văn Sử. Ấn bản điện tử : Công Đệ, Doãn Vượng, Lê Bắc.

10– Phạm Trọng Điềm, Đào Duy Anh, Đại nam Nhất Thống Chí, Quốc Sử Quán Triều

    Nguyễn, (dịch) Nhà xuất bản Thuận Hoá , 1997