VU LAN BÁO HIẾU: NHỚ VỀ NGƯỜI MẸ BÌNH DỊ VÀ LUÔN LẠC QUAN

Gần đây, khi đã có tuổi, tôi thường dànhnhiều thời gian về thăm quê, một làng nhỏ bên dòng sông Tô Lịch với mái chùa rêu xanh cổ kính. Mùa Vu Lan báo hiếu đã về nên tôi nghĩ nhiều đến những Người Mẹ, cả mẹ đẻ, mẹ vợ và có cả những người tuy chưa một lần tôi gọi tiếng Mẹ, nhưng trong sâu thẳm con tim thì không khác gì Người Mẹ đã sinh ra và nuôi dưỡng mình. Đó là Mẹ Tô Thị Nhu - là người em gái thứ 2 của bố tôivà chính là Cô ruột của tôi.

Mới đây, nhân ngày 27/7,tôi về thắp hương cho Mẹ và cho cả anh con trai của Mẹ - Liệt sỹ kháng chiến chống Mỹ. Tôiở lại dự bữa cơm trưa với gia đình chị con dâu của Mẹ - chị Tâm, năm nay cũng đã 75 tuổi, cùng vợ chồng đứa cháu nội duy nhấtvà mấy người trong họ. Mẹ ra đi cách đây đã 9 năm rồi (mẹ sinh ra tôi thì đã ra đi 30năm rồi). Nghĩ về các bà Mẹ mà lòng tôi tràn ngập sự biết ơn và tình yêu thương thành kính, vì họ cho tôi không những chỉ cuộc sốngmà còn cho cả tâm hồn, nghị lực và lòng yêu thương đồng loại.

Nhớ lại một buổi sáng hè năm 1952, khi mới 5 tuổi, tôi cùng anh trai đi từ làng trên, qua một cánh đồng nhỏ, tới nhà bà Cô ruột ở làng dưới đểtránh những trận càn thường xuyên của giặc Pháp đối với những nơi chúng nghi ngờ có Việt Minh hoạt động. Tôi cũng thích xuống nhà bà, vì xuống đó, tôi hay được bà chiều chuộng và được chơi với con trai của cô - cậu em nhưng hơn tôi 4 tuổi. Hai anh em ra đầu làng khi trời còn tinh mơ nhưng cũng kịp nhận ra một toán lính ngụy lấp ló sau các lùm cây rình rập từ đêm hôm trước để đón bắt cán bộ, du kích về làng. Vì còn quá nhỏ nên anh em tôi không gặp trở ngại gìđáng kể. Qua cánh đồng, tới nhà Cô ruột, bà ôm chầm lấy chúng tôi, vì bà biết đêm qua có mấy toán lính lùng sục cả làng trên, xóm dưới và còn phục kích cho tới sáng nay.

Đối với bà, sự lo lắng cho chồng con đã là nỗi lo thường trực kể từ khi giặc Pháp quay lại đánh chiếm các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộvà ngoại vi thành Hà Nộivào năm 1946. Ngay cuối năm đó, chồng Bà vốn là du kích đã hy sinh trong một trận càn của giặc ở ngay đầu làng khi ông cùng đội du kích chống lại sự tấn công của kẻ địch. Bà ở vậy nuôi con, chăm lo cho các cháu và còn nhận cả hai người con nuôi. Còn nhớ, cuộc sống thời đó rất đơn sơ, đạm bạc, ăn không đủ no.Thường thì, sáng sớm ăn khoai, trưa vài bát cơm độn mà phần chủ yếu là ngô hay khoai. Chiều tối nếu may mắn thì lại có khoai hay bí đỏ luộc, đôi khi “ăn vã” nửa quả cà bát muối rồi uống nước mưa hoặc nước lá vối là xong...

Năm tháng qua đi, mấy anh em trai chúng tôi lớn lên trong sự che chở của những người Mẹ và các cô bác làng trên, xóm dưới. Chả mấy chốc tôi vào Đại học, còn anh Tưởng - con trai duy nhất của Mẹ Nhu, sau khi đã làm giáo viên phổ thông 4 năm thì lên đường nhập ngũ (anh Tưởng xung phong nhiều lần mới được duyệt). Sau này được biết anh đã chiến đấu ở mặt trận B5 trong những năm 1968 - 1970. Có lần, khi chị Tâm viết thư cho chồng (anh Tường) ngoài mặt trận, Mẹ Nhu đã đọc cho con dâu mấy câu để viết vào thư gửi cho con trai:

     “Chín năm kháng chiến, mười năm hòa bình,

      Mẹ nuôi con không quản đói no,

      Lớn lên con trưởng thành ra trận.

      Con hãy chiến đấu thắng liền chục trận

      Mẹ ở nhà vui vẻ với cháu con...”

Đây là một đoạn “văn vần” mà chị Tâm thuộc lòng trong số hàng trăm đoạn văn khác mà mẹ Nhu thường “ứng khẩu” đọc trong các lễ hội, đám cưới của trai gái làng trên, xóm dưới. Mẹ là con gái út một Cụ Đồ nho, nên hồi còn trẻ cũng được học hành đôi chút và thuộc lòng cả Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên… Chính khả năng này đã giúp Mẹ có thể dễ dàng tham gia góp vui cùng bà con mỗi khi có sinh hoạt đông người và đặc biệt dễ cởi mở và chia sẻ với mọi người.

Chuyện trò với chị Tâm, chúng tôi cùng nhau nhớ lại những kỷ niệm về Mẹ và chồng chị. Anh Tưởng nhập ngũ năm 1967, chiến đấu ở chiến trường B5 vào giai đoạn ác liệt nhất. May mắn là trước khi nhập ngũ, Mẹ đã kịp cưới vợ cho anh và sinh được một cháu trai kháu khỉnh. Gia đình chỉ nhận được vài lá thư viết vội trên đường hành quân của anh. Anh bặt tin từ khi vào B5, nhưng mãi năm 1973 gia đình mới nhận được giấy báo anh đã hy sinh anh dũng từ năm 1970. Khi nhận được tin này, chị Tâm thấy như trời bị sụp đổ, chị khóc sướt mướt và nằm liệt giường 3 tháng ròng. Mẹ Nhu đã chịu đựng nỗi đau này cách đấy đã hơn 20 năm, hơn thế nữa giờ đây nỗi đau lại nhân lên gấp bội, vì Mẹ vừa mất chồng, vừa mất đứa con trai duy nhất.Trong tình thế tưởng chừng như tuyệt vọng đó, Mẹ lại nén đau thương để làm chỗ dựa tinh thần cho con dâu và cho cháu, vẫn chăm lo công việc đồng áng, vẫn thường xuyên qua lại làng trên xóm dưới thăm nom họ hàng, làng xóm và vẫn tham gia các sinh hoạt cộng đồng.

 Trước đây Mẹ vẫn tới chùa lễ Phật hàng tuần, nay Mẹ tới chùa thường xuyên hơn, vừa để chia sẻ với mọi người, vừa để hiểu rõ hơn ý nghĩa đích thực của cuộc đời qua kinh Phật. Những lời Phật dạy đã giúp Mẹ nén nỗi đau mất mát, chuyển hóa tình yêu thương sang con dâu và cháu. Với sự từng trải của mình, Mẹ chăm sóc con dâu ân cần như con gái, giúp con những việc nặng trong nhà, đồng thời tế nhị thể hiên sự ủng hộ sự tham gia các hoạt động xã hội của con dâu cũng như nếu con dâu có suy nghĩ và đưa ra quyết định gì khác… Từ đấy, chị con dâu hiểu Mẹ nhiều hơn, gắn bó và chia sẻ với Mẹ dễ dàng hơn và chị đã tự nguyện đi theo tấm gương của đời Mẹ, quyết tâm cùng Mẹ nuôi dậy con khôn lớn.

 Cách đây mấy năm, tôi cũng có dịp viếng thăm Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn cùng đồng đội (tôi nhập ngũ thời gian 1971 - 1975) và tham dự cầu truyền hình “Một thời Hoa Lửa” VTV3 tại đầu cầu Thành cổ Quảng Trị, nhằm khơi dậy những ký ức hào hùng thời đó. Tôi đã tới thăm mộ các liệt sỹ, trong đó có một số người là đồng đội, là người thân trong Nghĩa trang và được nghe kể lại những cuộc chiến đấu cam go năm 1970 - 1972. Một bạn đồng ngũ sau này trở thành Nhà thơ quân đội đã kể lại cuộc chiến ác liệt trên bờ sông Thạch Hãn với mấy câu thơ:

             “Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ

               Dưới đáy sông ấy bạn tôi nằm

               Hóa tuổi đôi mươi thành sông nước

               Giữ yên bờ cõi mãi ngàn năm”

Chỉ với vài câu chuyệnnhỏ về quá khứ, chúng tôi đắm chìm trong sự nhớ nhung về anh Tưởng, về mẹ Nhu. Nhìn lên tường nhà, tôi thấy rõ bên cạnh tấm bằng “Tổ quốc ghi công” còn có Huân chương Độc lập hạng Ba do Hội đồng Nhà nước trao tặng gia đình Mẹ năm 1985, vì đã có con trai duy nhất hy sinh cho nền độc lập tự do của Tổ quốc và tiếp sau đó là năm 1994, Chủ tịch nước tặng Mẹ danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng.

Chị con dâu kể, khi mới về nhà chồng, những năm đầu mới vào Hợp tác xã nông nghiệp còn có rất nhiều khó khăn, chồng đi công tác đến Chủ nhật mới về; hai mẹ con ở nhà nấu cơm chỉ có 1/3 là gạo, còn lại là độn khoai lang, khoai sọ. Cuộc sống vật chất lam lũ như vậy nhưng chưa bao giờ thấy Mẹ buồn phiền, to tiếng, gắt gỏng điều gì trong nhà cũng như với hàng xóm. Với làng xóm, mẹ Nhu luôn thăm hỏi, quan tâm đến mọi người, chia sẻ lúc khó khăn, nhường nhịn trong công việc của Hợp tác xã, hòa giải giữa những ai có xích mích.Phải chăng, ông bà tổ tiên đã cho Mẹ cái tên “Nhu”, nên Mẹ luôn luôn nhu hòa, khoan ái trước mọi việc trong cuộc đời. Khi lấy chồng, Mẹ còn được gọi theo tên chồng là Nhẫn nên lại càng thêm sự nhẫn nhịn? Thỉnh thoảng, Mẹ từ làng dưới tới thăm họ hàng ở làng trên, chưa thấy bóng Mẹ đã nghe thấy tiếng đon đả chào hỏi, chia sẻ ngọt bùi với mọi người xung quanh. Trong xóm có một anh cháu họ là bộ đội phục viên bị thương tật do sức ép của bom Mỹ, khi trái nắng trở trời thì có thể quát nạt bất cứ ai, nhưng khi gặp Mẹ anh ta lại “mẹ mẹ, con con”. Nếu có điều gì không ổn, khi được Mẹ nhẹ nhàng chỉ bảo, thì anh lại vui vẻ xin tha lỗi. Phải chăng sự khiêm nhường, nhưng lạc quan của Mẹ đã truyền cho mọi người lòng từ bi, bác ái để họ biết trân quý mỗi phút giây đang sống, dẹp bỏ những tự ái, buồn bực trong đời thường...

Trước đây, thỉnh thoảng có dịp về làng tôi lại đến thăm Mẹ để nghe những lời mộc mạc, gần gũi, yêu thương, thân tình của bà Cô ruột và để được coi bà như Mẹ đẻ của mình. Không bao giờ tôi nghe thấy Mẹ than phiền nỗi khổ hay sự cô đơn, trống vắng. Có thể là do Mẹ đã có cô con dâu duy nhất vẫn ở lại cùng Bà san sẻ gánh nặng cuộc đời, do cháu nội cũng đã nhanh chóng trưởng thành, do Mẹ được bà con lối xóm đùm bọc, do được chính quyền cơ sở chăm lo theo chế độ của Bà Mẹ Việt Nam anh hùng... Những điều đó rất đúng nhưng không phải chỉ có vậy…

Một đời Mẹ, chồng hy sinh khi mới 30 tuổi và con trai duy nhất hy sinh khi 50 tuổi, nhưng Mẹ vẫn lạc quan sống cùng bà con thôn xóm tới tuổi 95! Tuổi xuân của Mẹ ngoài việc nuôi cậu con trai khôn lớn, còn được để san sẻ tình thương yêu cho 2 cô con gái nuôi (một cô năm nay hơn 80 tuổi với con cháu đầy đàn!). Đã có nhiều người hỏi “vì sao Bà sống lạc quan như vậy?”. Mẹ rủ rỉ: "Tôi cũng như mọi người thôi, bà con lối xóm sống  thế nào thì tôi cũng sống như thế! "Có lúc tôi “trộm” hỏi, sao Mẹ sống lạc quan thế? Nhưng, riêng với tôi, thì Mẹ thủ thỉ: “Con còn lạ gì nữa? Cả ta và con đều nghe lời Phật dạy: Đời là vô thường mà! Con người ta cần phải bớt đi tham lam, sân hận để sống thanh thản hơn, vui vẻ hởn. "Tôi hiểu, lời chia sẻ của Mẹ thật giản dị mà sâu sắc, giáo lý của Đức Phật đã thấm sâu vào con người nhỏ bé và gầy guộc kia, nhưng nó đã trở thành sức mạnh vô địch.

Nhớ lại, khi Mẹ ốm nặng, cả tuần gần như không ăn gì, phải tới Bệnh viện Việt Đức điều trị. Tôi tới thăm Mẹ, thấy yếu quá rồi nên phải hỏi riêng Bác sỹ. Mẹ biết chúng tôi lo lắng, nên cố gắng nở nụ cười nói với con cháu tới thăm: “Chính là lời Phật dạy, đời này là bể khổ, nhưng mình hãy lạc quan, biết chấp nhận và cố gắng vươn lên, hãy yêu thương những người xung quanh, không kể là người trong gia đình hay họ hàng... thì mĩnh cũng sẽ nhận được vị ngọt của cuộc đời”. Đó là những lời nhắn gửi mộc mạc, giản dị của một bà Mẹ lam lũ suốt đời, hy sinh cả chồng và con trai duy nhất, luôn sống hòa đồng và được mọi người kính trọng và vì vậy nó đã lắng đọng trong tôi và sẽ ở lại đó mãi mãi như một hành trang quý giá nhất cả cho các thế hệ con cháu mai sau.

GS. TÔ XUÂN DÂN

Chi họ Tô Xuân Khánh Vân, Thường Tín, Hà Nội