Nước vối quê nhà


Ngày tôi còn nhỏ, cứ vào những dịp nắng to là bà lại nhắc mẹ đi chợ mua lá vối về phơi. Hôm ấy, bà chuẩn bị sẵn mấy cái nong, quét sạch một góc sân có bóng dâm rồi mang dao và thớt ra đợi sẵn. Lá vối mẹ mua về bà ngồi tỉa cành khô, lá vàng rồi chọn ra từng nắm. Tay vuốt vuốt những cánh lá xanh mượt, bà nói thì thào như cho chính mình nghe: “Mẹ con mua được chỗ này, lá to và dày là được nước lắm đây”.

Bà băm những cành lá thành từng đoạn độ nửa ngón tay, rồi rải đều lên những cái nong, đưa ra phơi ở giữa sân nắng loá. Chừng năm, sáu buổi, lá vối khô vàng, bà dồn vào những cái giành đan bằng tre, lấy mo cau đậy lên đem cất vào trong nhà. Giành nào dùng ngay, bà treo vào đầu con xỏ trước hiên nhà bếp, úp lên một cái nón mê để che mưa. Hàng ngày cùng với nấu các bữa ăn, bà lấy từ trong giành ra một nắm lá vối, rửa sạch rồi cho vào cái ấm đất đun sôi. Nước thứ nhất, bà rót sang cái tích mang lên nhà trên cho ông tiếp khách. Nước thứ hai, bà đặt cả ấm vào chiếc quang nứa đã đứt một rải treo bên cửa bếp, cùng một chiếc bát con úp trên vung cho tiện người đi làm về có nước uống ngay.

Những ngày nóng nắng, đi học về, bà thường rót cho chúng tôi một bát nước vối thẫm vàng như mật, một mùi thơm dịu mát thoảng qua. Bà vừa quạt, vừa khe khẽ giục: “Uống đi con, uống đi rồi còn ăn cơm”. Uống vào, cơn khát cùng những mệt mỏi tan nhanh trong vị ngọt đậm của lá khô. Một lần bà kể: Thời kháng chiến chống thực dân Pháp, vùng này còn tạm chiếm, bố tôi đi du kích tập trung, có đêm tìm về lẻn ngay vào bếp. Bà tưởng bố đói tìm cơm nguội, nhưng khi đốt được đèn thì thấy bố bê cả cái ấm nước vối lên tu. Từ đấy, cứ đêm nào nghe tiếng súng đì đùng là bà lại dậy đun nước vối, rồi đổ ra cái nồi đồng cho nhanh nguội để bố về dùng… Đêm ấy bố tôi về, mang cả cái nồi đồng ra bờ tre cho mọi người cùng uống, rồi lại ra đi, súng lại nổ đì đùng và từ đấy bố tôi không bao giờ về nữa. Kháng chiến thành công, bố tôi được chính quyền chính thức báo tử, là liệt sĩ. Ngày mẹ sang xã bạn nhận mộ bố, bà gửi theo một ca nước vối mà dặn: “Cứ để ca nước vào mâm mà thắp hương, khi sống anh ấy cũng hay thèm nước vối”.

Mẹ tôi ở vậy nuôi con. Chị em tôi ăn cơm từ hạt gạo của làng, với con cua, con cá mẹ bắt ngoài đồng, uống nước lá vối quê mà lớn. Ngày tôi vào bộ đội, bà hỏi: “Có uống nước lá bà gói cho một nắm”. Rồi tôi vào miền Nam chiến đấu. Xa xôi cách trở không về thăm quê được, nhưng mỗi đận gian nan, thiếu muối, đói cơm hay khi bị thương nằm trên giường bệnh, nhớ về quê cũ, tôi lại thấy bà với bát nước thẫm vàng như mật. Một mùi thơm dịu mát thoảng qua và vị ngọt đậm của lá khô làm tôi khoẻ lại, vững tin.

Đất nước thống nhất, tôi trở về quê nhà, bà không còn nữa. Nhưng trên bàn thờ, bát nước vối vẫn thẫm vàng như mật. Mẹ tôi nói: “Bây giờ mọi người đều uống trà, ít người còn uống nước lá. Nhưng mẹ vẫn tìm mua, chỉ để nấu cho bà và bố mỗi khi giỗ tết”.

Vào hè, 2003

Tô Trúc Phương