Nhân vật trong bài thơ “Núi Đôi”


          Bảy năm về trước, em mười bảy

          Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng

          Em ở đây là Trần Thị Bắc, sinh năm 1932, trong một gia đình sớm giác ngộ cách mạng và hoạt động kháng chiến ở thôn Xuân Dục Đoài, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Năm 15 tuổi (1947) Bắc đã tham gia hoạt động trong các phong trào thanh, thiếu niên. 17 tuổi cô gia nhập Đội du kích, làm nhiệm vụ giao thông liên lạc, tiếp tế và trực tiếp chiến đấu bảo vệ nhân dân trong những trận càn của giặc.

          Anh trong bài thơ là Trịnh Khanh, sinh năm 1930 ở thôn Vệ Linh, cùng xã Phù Linh với Trần Thị Bắc. Năm 17 tuổi Trịnh Khanh xung phong vào bộ đội, thuộc Đại đội Trần Quốc Tuấn, Trung đoàn 121, đơn vị chủ lực làm nhiệm vụ chiến đấu ở vùng đồng bằng, trung du Bắc bộ. Năm ấy, đơn vị Khanh đóng quân ở xã Bắc Sơn trong huyện nhà Sóc Sơn thì một hôm, cậu Trần Nhu, quê Hà Tây (nay là Hà Nội) vui vẻ thông báo:

-Khanh này, cậu có một cô gái đồng hương đang theo học lớp y tá rất xinh. Muốn tìm hiểu thì bọn mình giúp một tay.

Không ngờ chuyện vui lại trở thành sự thật. Từ lúc quen nhau cho đến gần hai năm sau, vào năm 1952 Trịnh Khanh mới gặp lại Bắc khi cô lại dự lớp học y tá của tỉnh Vĩnh Phúc. Bắc thường sang đơn vị Khanh nấu cơm, nấu nước cho mấy anh em. Mọi người quý mến gọi Bắc là “nàng dâu” của Tiểu đoàn. Nhất là Chính trị viên Nguyễn Viết Bát thường quan tâm, tạo điều kiện cho hai người gặp nhau. Trịnh Khanh và Trần Thị Bắc cũng ngỏ lời hẹn ước; khi nào thắng trận ở Bắc Hồng (huyện Đông Anh) thì sẽ tổ chức đám cưới. Cuối năm 1953, trước khi bước vào trận đánh tiêu diệt quân địch ở Bắc Hồng, Chính trị viên đại đội Nguyễn Viết Bát ký vào tờ “công văn” ngắn gọn: “Đại đội Trần Quốc Tuấn đồng ý giải quyết cho đồng chí Trịnh Khanh về quê tổ chức lễ cưới với cô Trần Thị Bắc, đề nghị gia đình và chính quyền địa phương tạo điều kiện giúp đỡ…”. Không ngờ trận đánh ấy, anh Bát đã hy sinh. Tiếc thương người chính trị viên và để thực hiện ý nguyện của anh, Trịnh Khanh xin đơn vị cho nghỉ ba ngày thăm gia đình. Khi đưa cho Bắc xem “công văn ” có chữ ký của Chính trị viên Nguyễn Viết Bát, thì Bắc im lặng, hai hàng nước mắt trào ra. Đến lúc quyết định xin phép hai bên gia đình để tổ chức đám cưới thì cả hai đều khóc, hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, hai người lại không có một đồng xu nào để mua trà thuốc hoặc chuẩn bị cho cuộc sống sau này. Khóc mãi rồi Bắc đứng lên, trở vào vùng địch hậu và thật không ngờ, ngay ngày hôm sau mẹ Bắc gánh một gánh nặng ra vùng tự do Hồng Kỳ. Một bên là cậu em út Trần Văn Nhuận, một bên đầy bánh kẹo để làm kễ cưới. Đêm tân hôn hôm đó, vợ chồng Khanh Bắc được mọi người làm cho một ổ rơm lót lá chuối khô trong một túp lều ven sườn đồi. Hai ngày sau, vợ chồng chia tay nhau. Nào ngờ đó là cuộc chia ly vĩnh viễn.

Vào lúc 22 giờ ngày 16 tháng 3 năm 1954 (sau ba ngày quân ta mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ), Trần Thị Bắc nhận nhiệm vụ đưa một Đoàn cán bộ khoảng 30 người từ vùng địch hậu Lương Châu ra “vành đai trắng” Phù Linh. Cô đi trước thăm dò, đến chân núi Đôi thì lọt vào ổ phục kích của địch. Chúng lặng lẽ bắt và bịt miệng cô với ý đồ bắt sống toàn bộ số người đi sau. Quyết không để cán bộ ta rơi vào tay giặc, bất ngờ Bắc lao vào tên quan Pháp khiến hắn kêu rống lên. Tên lính lê dương đứng bên cạnh vội vàng xả một băng đạn vào ngực Bắc. Nghe tiếng súng, đoàn cán bộ biết có động liền vòng tránh an toàn. Nhưng Trần Thị Bắc đã hy sinh, máu chảy loang trên vồng ngực căng tròn tuổi thanh xuân.

Cảm động trước mối tình kháng chiến và sự hy sinh anh dũng của Trần Thị Bắc, nhà thơ Vũ Cao đã làm bài thơ “Núi Đôi” nổi tiếng có những câu:

Bảy năm về trước, em mười bảy

Anh mới đôi mươi, trẻ nhất làng

Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa

Bữa thì em tới, bữa anh sang

 

Lối ta đi giữa hai sườn núi
Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
Em vẫn đùa anh: sao khéo thế
Núi chồng núi vợ đứng song đôi!

… Nhưng núi còn kia, anh vẫn nhớ.
Oán thù còn đó, anh còn đây
Ở đâu cô gái làng Xuân Dục
Đã chết vì dân giữa đất này!

Ai viết tên em thành liệt sĩ
Bên những hàng bia trắng giữa đồng
Nhớ nhau anh gọi em: đồng chí
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

Anh đi bộ đội sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

                                                                         Tô Mai Hạnh