SÔNG TÔ LỊCH

           Sông Tô Lịch ngày nay (Ảnh TL)

 

Tô Lịch là nhánh của Sông Cái, là dòng sông cổ của Thăng Long, cũng là dòng sông quê hương của người Hà Nội. Theo lý thuyết “Tứ giác nước” của Giáo sư Trần Quốc Vượng, thì sông Tô là một cạnh của tứ giác đó.

Nhị Hà quanh Bẳc sang Đông

Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bênnày

Sông Tô xưa,nước đầy ắp chở nặng phù sa sông Nhị,tưới nhuần đồng ruộng Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm, Thanh Trì, đến cuối dòng thì dồn nước vào sông Nhuệ. Dân Kẻ Chợ sống ở hai bên bờ sông buôn bán tấp nập, trên bến dưới thuyền.

Nước sông Tô vừa trong vừa mát

Em ghéthuyền đỗ sát thuyền anh

Sông Tô bắt nguồn từ sông Hồng, là nhánh của sông Hồng. Nhưng trước thế kỷ thứ XI, ở lưu vực Hà Nội bây giờ, sông Tô có hai cửa, cửaThiên Phùphía Bắc hồ Tây và cửagầnHương Bài, Chợ Gạo, gọi là cửa Giang Khẩu, sau đổi thành Hà Khẩu. Nguồn vào của sông Tô là cửa Thiên Phù (Bắc hồ Tây)còn Giang Khẩu là cửa ra của một nhánh sông Tô.

Trải qua các giai đoạn lịch sử, sông Tô mang nhiều tên khác nhau: Sông Tô Lịch (gọi tắt là sông Tô),sông Lai Tô, sông Lương Bài, sông Địa Bảo... có những tên dân gian, cótên do chính quyền phong kiến đặt, cũng có cả tên do kẻ xâm lược áp đặt. Nhưng cái tên sông Tô Lịch sống mãi cho đến ngày nay và được sử sách ghi lại từ thế kỷ thứ VI (năm 545).Dòng sông cũng đi vào thơ, vào sử.

Sông Tô nước chảy quanh co

Cầu Đông sương sớm, quán Giò trăng khuya

Chắc hẳn có nhiều người sẽ hỏi: Tại sao sông có tên là Tô Lịch? Theo sách “Việt điện u linh” thì Tô Lịch là tên một vị thủ lĩnh làng - Hà Nội. Tô Lịch có nhiều công với dân làng, nên khi ông mất, làng Hà Nội gốc được mang tên ông, rồi được phong là Long Đỗ thần hay Tô Lịch giang thần. Tô Lịch giang thần được thờ ở Đền Bạch Mã và tước hiệu của ông là “Đô phủ Thành hoàng Thần quân”.

Sông Tô Lịch có dòng chảy đặc biệt, bình thường nước chảy xuôi dòng từ sông Hồng về sông Nhuệ, còn vàomùa lũ, nước trong đồng đổ dồn vào sông Tô, thế nước thường cao hơn nước sông Hồng, nên dòng nước sông Tô chảy vào sông Hồng; do vậy sông còn có thêm tên “nghịch thủy” (dòng sông chảy ngược).

Hai bên sông xuất hiện nhiều làng, dân cư đông đúc, kinh tế phát triển, nhiều công trình kiến trúc, chủ yếu là chùa, quán và cũng tại hai triền sông Tô này, xuất hiện nhiều danh nhân văn hóa đất nước. Bên cạnh đó còn có 61 phường thợ thủ công, dân Thập Tam trại, từ Lệ Mật sang khai khấn, trồng lúa, rau, hoa; dân Kẻ Láng có sản vật húng Láng nổi tiếng suốtbaođời nay.

Vải Quang, húng Láng, ngổĐầm

Cá rô đầm Sét, sâm cầm hồ Tây

Địa danh quan trọng nhất bên bờ sông Tô, đó là ngã ba sông Thiên Phù. Tô Lịch có bến Hồng Tân (vùng chợ Bưởi bây giờ),trên đường từ Hoa Lư về thăm quê ở Cổ Pháp, vua Lý Công Uẩn đã dừng thuyền ngự tại đây và nhận ra thế đất “Dựng nghiệp đế vương cho muôn đời”. Chính tại đây, sau Chiếu dời đô, vào mùa thu, tháng Bẩy năm Canh Tuất (1010),thuyền ngự với chiến thuyền và văn võ bá quan hộ tống, từ Hoa Lư, vua Lý Thái Tổ đã ngược dòng cập bến Đại La (tức bến Hồng Tân). Dânvùng Bưởi đón nhà vua với lụa là, gấm vóc và nhiều sản vật quý, sau được nhà vua tặng tên làng Nghĩa Đô và Bái Ân.

Ngoài các sản phẩm nông nghiệp, dân cư ven sông Tô còn có các nghề thủ công nổi tiếng, như: Nghĩa Đô, An Thái,Hồ Khẩu, Kẻ Cót có nghề làm giấy, trong đó giấy dó Nghĩa Đô, An Thái được triều đình dùng để viết chiếu chỉ, sắc phong. Các làng Trích Sài, Bái Ân, Nghĩa Đô có nghề dệt lụa lĩnh nổi tiếng từ ngàn xưa. Dân huyện Long Đàm xưa có nhiều làng xã Nam ven sông Tô, có các nghề nổi tiếng, như: Dưa cà làng Gừng; kim hoàn ở Định Công Thượng; nghề làm quạt và kẹo bột, bỏng gạo ở Kim Lũ; làng Ngâu có nghề nấu rượu; Tứ Kỳ làm bún đã mấy trăm năm...

Dọc hai bờ sông Tô xưa, từ Bưởi đến chợ Gạo và từ Bưởi đến Thanh Trì, Thường Tín có nhiều làng cổ, mỗi làng đều có đầy đủ thiết chế đình, đền, chùa, tính sơbộ có tới cả trăm đình, đền, chùa, miếu. Nhưng nổi tiếng nhất có đền Bạch Mã thờ Tô Lịch giang thần, đền Quán Thánh thờ thần Trấn Võ; đền Đồng Cổ ở thôn Đông Xã, thờ thần Đồng Cổ và là nơi từ thời Lý Thái Tông, hàng năm mở Hội thề - Gọi là Hội thề Đồng Cổ: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần minh tru diệt!”.

Ởvùng Bưởi còn có đình An Thái thờông Dầu, bà Dầu, tương truyền là người hy sinh thân mình cứu thành và cứu vua Lý khỏi bệnh đau mắt; đền Voi Phục thờ Linh Lang Đại vương, con vua Lý Anh Tông có công đánh giặc Tống trên sông Như Nguyệt. Kẻ Cót, Kẻ Mọc có rất nhiều đình, chùa thờ các nhân thần có công với nước và có các dòng họ nổi tiếng về khoa bảng. Làng An Lãng có chùa “Chiêu Thiền Tự(tức chùa Láng),gắn liền với tên tuổi Thiền sư Từ Đạo Hạnh, một nhà sư, một nghệ sĩ chèo.

Dọc hai bờsông là quê hưong của nhiều danh nhân lịch sử văn hóa, như: Danh tướng Phạm Tu, võ tướng trong cuộc khởi nghĩa Lý Bí, thế kỷ VI và tiên triết Chu Văn An, bậc túc nho thời Trần, người thày giáo nổi tiếng. Danh nhân văn hóa Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Thể và Nguyễn Trọng Hợp.Ngày nay, sông Tô Lịch đã không còn như xưa, do những biến đổi về dòng chảy của sông Hồng, nên nước sông Tô cạn dần, phù sa cũng làm sông Tô tắc dần, lại thêm người Pháp sau khi chiếm Hà Nội (1883)đã lấp hẳn nhánh sông Tô chảy giữa nội thành để làm phố. Nhưng chúng ta vẫn nuôi hy vọng, với một Hà Nội mới, sông Tô Lịch sẽ được nạo vét cải tạo để trởlại vẻ thanh bình xưa.

Sông Tô nước chảy trong ngần

Con thuyền buồm trắng chạy gần chạy xa

                                                    Khánh Nguyên (Tô Quyết Tiến st)