
Kính cáo anh linh Đức Thái phó Tô Hiến Thành!
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo xã Ô Diên,
Kính thưa các vị khách quý,
Kính thưa các bậc cao niên, bà con nhân dân địa phương và bà con Họ Tô cả nước!
Hôm nay, trong không khí trang nghiêm và thành kính, chúng ta cùng hội tụ về đây tưởng niệm 847 năm ngày mất của Đức Thái phó Tô Hiến Thành - một danh nhân kiệt xuất của dân tộc, một vị đại thần văn võ song toàn, tấm gương sáng ngời về lòng trung nghĩa, đức thanh liêm, sự cương trực và tinh thần tận tụy vì nước, vì dân.
Gần chín thế kỷ đã trôi qua, tên tuổi và nhân cách của Người vẫn sống trong sử sách, trong các đình, đền, miếu thờ và sâu đậm nhất là trong lòng nhân dân. Tưởng nhớ Đức Tô không chỉ để tri ân tiền nhân, mà còn để các thế hệ hôm nay soi mình vào một chuẩn mực lớn về trách nhiệm, khí tiết và đạo đức phụng sự quốc gia.
Đức Tô Hiến Thành, hiệu Phi Diên, sinh năm Nhâm Ngọ 1102, cuộc đời gắn bó sâu nặng với vùng đất Ô Diên giàu truyền thống văn hiến. Người phụng sự dưới ba triều vua Lý Thần Tông, Lý Anh Tông và Lý Cao Tông. Từ một võ tướng cầm quân ngoài trận mạc, Người được phong chức Thái úy, đứng đầu hàng quan võ; về sau giữ chức Nhập nội Kiểm hiệu Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự, gánh vác việc quân quốc, phò tá nhà vua và được phong tước Trung Tiết vương.
Trên lĩnh vực quân sự, Đức Tô là một vị tướng tài năng, có công dẹp loạn Thân Lợi, đánh Ngưu Hống, chống quân Ai Lao, chỉ huy quân đội đánh Chiêm Thành và giữ yên bờ cõi Đại Việt. Người coi trọng kỷ luật, lựa chọn tướng lĩnh theo tài năng và đức độ, thưởng phạt nghiêm minh, khiến quân sĩ và nhân dân đều kính phục.
Không chỉ giỏi quân sự và chính trị, Đức Tô còn có tầm nhìn sâu rộng về kinh tế gắn với quốc phòng. Người đề xuất và trực tiếp tổ chức khai khẩn, lấn biển, mở rộng đất nông nghiệp, hình thành những vùng dân cư và sản xuất trù phú dọc ven biển từ Hải Phòng đến Hà Tĩnh. Những vùng đất mới vừa tạo sinh kế cho nhân dân, tăng nguồn lực cho quốc gia, vừa tạo thế phòng thủ lâu dài nơi biên hải.
Người cũng được đánh giá là bậc đại thần sớm đặt nền móng cho chiến lược biển của Đại Việt. Năm 1149, sau khi khảo sát vùng biển Đông Bắc, Người tâu vua Lý Anh Tông cho lập trang Vân Đồn, mở ra thương cảng quốc tế đầu tiên của Đại Việt, thúc đẩy giao thương với nước ngoài. Người nhiều lần được giao chỉ huy hoặc tháp tùng nhà vua tuần tra, kiểm tra các vùng biển và cửa biển trọng yếu. Đó là tư duy vượt trước thời đại: giữ biển không chỉ bằng binh thuyền, mà còn bằng dân cư, sản xuất, giao thương và sự hiện diện bền vững của quốc gia trên không gian biển.
Tầm vóc của Đức Tô càng tỏa sáng trong những thời khắc sống còn của triều chính.
Năm 1175, vua Lý Anh Tông lâm bệnh nặng, giao Thái tử Long Trát mới ba tuổi cho Tô Hiến Thành phò tá. Sau khi nhà vua qua đời, Chiêu Linh Thái hậu tìm cách thay đổi di chiếu, đưa Long Xưởng trở lại ngôi vị; dùng quyền lực gây sức ép và đem vàng bạc mua chuộc phu nhân của Người.
Trước quyền lực và tiền tài, Đức Tô vẫn một lòng kiên định. Người khẳng định mình là đại thần nhận mệnh Tiên đế giúp vua nhỏ; nếu vì của đút lót mà thay đổi ngôi vua thì không còn xứng đáng với trách nhiệm được giao.
“Làm việc bất nghĩa mà được giàu sang, kẻ trung thần, nghĩa sĩ có vui làm đâu.”
Đó không chỉ là lời từ chối vàng bạc, mà còn là lời khẳng định: kỷ cương quốc gia không thể đem đổi lấy lợi ích cá nhân; phép nước không thể khuất phục trước quyền thế; người làm việc công phải giữ trọn danh dự, trách nhiệm và lẽ phải.
Nhờ sự kiên định ấy, di chiếu của vua Lý Anh Tông được giữ vững, Thái tử Long Trát lên ngôi, tức vua Lý Cao Tông. Giữa lúc triều đình đứng trước nguy cơ biến loạn, Đức Tô thực sự là trụ cột bảo vệ chính thống và sự ổn định của đất nước. Sử thần Ngô Sĩ Liên ca ngợi Người “như cột đá giữa dòng, tuy bị sóng gió lay động, vỗ đập mà vẫn đứng vững không chuyển”.
Lòng trung quân của Đức Tô không phải sự phục tùng đối với một cá nhân. Đó là sự trung thành với di mệnh chính đáng, với kỷ cương triều đình, với sự bình yên của đất nước và nhân dân. Người bảo vệ vua nhỏ là để bảo vệ phép nước; chống sự phế lập là để ngăn ngừa biến loạn. Vì vậy, lòng trung quân của Người cũng chính là lòng yêu nước và trách nhiệm trước xã tắc.
Đạo đức của Người còn thể hiện ở sự thanh liêm, cương trực và công tâm. Khi lâm bệnh nặng, dù Võ Tán Đường ngày đêm chăm sóc thuốc thang, Đức Tô vẫn tiến cử Trần Trung Tá - người có tài năng và phẩm chất - thay mình gánh vác việc nước.
“Vì Bệ hạ hỏi người nào thay tôi nên tôi nói là Trung Tá, nếu như hỏi người hầu nuôi thì không phải Tán Đường còn ai nữa”.
Câu nói ấy phân định rạch ròi giữa tình riêng và việc nước, giữa lòng biết ơn cá nhân và trách nhiệm đối với quốc gia. Đến phút cuối đời, Người vẫn đặt vận mệnh đất nước lên trên mọi quan hệ riêng tư. Đó là biểu hiện cao nhất của sự công tâm, liêm chính và tinh thần phụng sự.
Hơn hai thế kỷ sau, Thượng hoàng Trần Nghệ Tông cho vẽ tranh Tứ phụ, trong đó có Tô Hiến Thành. Vua Tự Đức và các sử gia Phan Huy Chú, Ngô Thì Sĩ cũng dành cho Người những lời đánh giá đặc biệt. Nhưng sự tôn vinh sâu sắc nhất vẫn là lòng dân: nhân dân ở nhiều địa phương đã lập đình, đền, miếu thờ Người, suy tôn Người là biểu tượng của vị quan thanh liêm, chính trực, hết lòng vì dân, vì nước.
Kính thưa toàn thể quý vị!
Cuộc đời Đức Tô Hiến Thành để lại những bài học lớn về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm, sự liêm chính, bản lĩnh trước quyền lực, tầm nhìn trong xây dựng và bảo vệ đất nước, cùng sự công tâm trong sử dụng người tài.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, học tập Đức Tô không chỉ là ghi nhớ lịch sử, mà quan trọng hơn là biết sống trung thực, có trách nhiệm, có bản lĩnh; biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng; không ngừng học tập, rèn luyện và cống hiến cho quê hương, đất nước.
Kỷ niệm 847 năm ngày mất của Đức Thái phó Tô Hiến Thành, chúng ta thành kính tưởng nhớ một bậc đại thần đã dành trọn cuộc đời phụng sự non sông Đại Việt.
Nguyện cho tinh thần trung nghĩa, thanh liêm, cương trực, công tâm và tầm nhìn vì dân, vì nước của Đức Tô Hiến Thành mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Xin kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ và tri ân Đức Thái phó Tô Hiến Thành!
Xin trân trọng cảm ơn!
- Danh họa Tô Ngọc Vân: Một đời tài hoa, giản dị
- CỤ TIẾN SĨ TÔ TRÂN
- ĐẠI THẦN TÔ TRÂN VÀ BÀI THƠ THỰ LÝ ĐỊNH TƯỜNG TUẦN PHỦ TÔ TRÂN
- Bài phát biểu trong Lễ đón nhận Bằng công nhận Di tích lịch sử cấp tỉnh Đền thờ Tô Thế Huy – Tiến sĩ Nho học, danh nhân văn hóa
- CON GÁI ĐỨC TÔ HIẾN THÀNH NGUYÊN TỪ HOÀNG HẬU TÔ PHƯƠNG LAN
- Danh thần Tô Hiến Thành, nhận việc ký thác con côi trong sử ký Đại Việt
- Tô Thế Huy - người khơi dòng mạch khoa bảng ở Bình Trù
- Nhà báo Tô Đình Tuân vinh dự nhận Huân chương Lao động hạng Ba
- NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ THÁI ÚY TÔ TRUNG TỪ
- Cô giáo Tô Thị Kim Quy và "duyên nợ" đào tạo học sinh giỏi
- Bảng tra Các chức quan, phẩm tước, học vị thời phong kiến Việt Nam
- Lễ báo công truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND đồng chí Tô Quyền
- Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” và nhà thơ Lê Anh Xuân
- Thuỷ Tổ Họ Tô Việt Nam là ai?
- Đất nước và người mẹ trong thơ Tạ Hữu Yên
- ANH HÙNG “MÌN GẠT”
- VÀI NÉT VỀ QUAN HỆ DÒNG HỌ TRONG CỘNG ĐỒNG LÀNG XÃ HIỆN NAY.
- Ai soạn thảo “Bản thông cáo số 1” của Bộ Tư lệnh Quân giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định ngày 30-4-1975?
- BÀI PHÁT BIỂU TẠI LỄ ĐÓN NHẬN BẰNG XẾP HẠNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ ĐÌNH THUẦN LƯƠNG CỦA NHÀ SỬ HỌC LÊ VĂN LAN
- LỚP TRƯỞNG TÔ HIỆP NHỚ VỀ LỚP ĐỆ NHẤT B “ĐẶC BIỆT”
Đang online : 4
Hôm nay : 1304
Tháng hiện tại : 37960
Tổng lượt truy cập : 3645378