NHỚ THƯƠNG CÂU HÁT CỐ HƯƠNG


Qua ngả Móng Cái, câu hát theo chân người Việt làm thành cái lõi văn hóa của dân tộc Kinh bên nước bạn Trung Quốc. Tại cửa khẩu, tôi may mắn gặp ông Tô Minh Lợi, 62 tuổi ở làng Vạn Vĩ, thị trấn Giang Bình, thành phố Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây. Qua trò chuyện, ông cho biết họ Tô của mình là một trong 12 dòng họ từ Đồ Sơn (Hải Phòng) sang Giang Bình lập nghiệp. Mười hai cụ tổ sống ở ba hòn đảo hoang lập ba làng Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu. Ba làng đó được gọi chung là Tam Đảo. Và người Trung Quốc gọi bộ phận người dân gốc Việt ở đây là Tam Đảo Kinh tộc, một trong 56 dân tộc ở đất nước họ.

 Gia phả họ Tô ghi lại rằng năm 1511 có bẩy dòng họ với tổng số chưa đến 100 người từ Đồ Sơn đến Giang Bình, sau tăng lên mười hai dòng họ. Còn theo truyền thuyết, do mải đuổi theo đàn cá song, cha ông của họ đã lưu lạc đến ba hòn đảo hoang vắng. Quá khứ lưu lạc ấy vẫn được các bậc cao niên hát cho con cháu nghe, trong đó có câu:Ngồi rồi kể chuyện ngày xưa/ Cha ông truyền lại là người Đồ Sơn.

 Theo ông Lợi mười hai dòng họ người Kinh ở Tam Đảo hiện nay vẻn vẹn chỉcó hơn hai vạn người. Dù là dân tộc thiểu số nhưng văn hóa người Kinh ở Tam Đảo thuộc loại độc đáo bậc nhất ở Trung Quốc. Còn những câu hát khi ở trong nước được lưu giữ chủ yếu bằng hình thức truyền miệng thì qua đây được chép lại, lưu giữ bằng chữ Nôm. Chương trình học cũng đưa chữ Nôm vào giảng dạy.

 Ở Trung quốc, ông Lợi đang phụ trách đội hát dân ca của người Kinh. Hát không chỉ là hoạt động đơn lẻ mà có đội hát, câu lạc bộ, thậm chí còn có cả một lễ hội truyền thống được tổ chức hàng năm theo nghi lễ cúng Thần biển diễn ra ở đình làng. Cả ba làng đều có đình. Người Kinh ở Tam Đảo trồng thị và đa trước đình như cha ông họ ở Đồ Sơn xưa kia vẫn làm. Riêng đình Vạn Vĩ còn cây đa cổ thụ 200 năm tuổi được gắn bia đề là “Cây tương tư Nam quốc”.

 Ngày làng vào hội, phụ nữ người Kinh mặc áo dài trẩy hội, đi hát nhà tơ, hát cửa đình. Năm nào hội làng cũng đón những vị khách đặc biệt từ Móng Cái sang hát giao lưu. Quốc tịch có khác nhau nhưng tiếng hát vẫn được truyền lại từ trong tiếng nói ông cha. Không có gì xa cách chia cắt tình cảm bởi chỉ cần đứng ở bãi biển Vạn Vĩ, ngó về hướng Nam, sẽ thấy một vệt mờ mờ xanh xanh, đó là Trà Cổ.

 Câu nói “người Trà Cổ tổ Đồ Sơn” quả thật chẳng sai. Như thế người Kinh ở Tam Đảo và người Trà Cổ có cùng chung tổ quán. Hơn nửa thiên niên kỷ đã trôi qua, người Kinh ở Tam Đảo đã tích cực giao lưu, hòa nhập với xã hội ở vùng đất mới để thích nghi, làm giầu thêm vốn văn hóa, nhưng vẫn luôn quan tâm gìn giữ, phát huy bản sắc dân tộc Việt Nam. Vốn văn hóa Việt vẫn chảy trong huyết quản, tình yêu cố hương, lối sống lạc quan vẫn được gửi gắm theo lời hát.

 Sang Quảng Ninh lần này, ông Lợi mời hai bà Bùi Thị Chiên và Lê Thị Lộc là những nghệ nhân dân gian  ở Vạn Ninh, bạn hát lâu năm của mình đi cùng để có bạn hát dọc đường. Nói rồi ông Lợi cất giọng ấm trầm: Lấy anh, anh sắm sửa cho/Áo đơn áo kép sắm cho để dành/Ba bốn năm anh chẳng nói nặng một nhời/Ở đâu có đám vui cười, anh lại cho đi. Xong ông Lợi phân trần rằng đó là bài ông vẫn hát thời trai trẻ. Chứ bây giờ những người như ông và bà Chiên con cháu đề huề cả rồi, dẫu có hát như thế thì cũng chỉ là nhu cầu tinh thần thôi chứ chẳng ai dám “xé rào”mà tơ tưởng chuyện ngoài chồng ngoài vợ.

 Đến bây giờ, chỉ còn những người có tuổi như ông bà mới thuộc nhiều bài hát, vì vậy trước mỗi cuộc hát, ông phải mời các bạn hát từ Móng Cái sang. Mỗi năm, chỉ hát chung vài ngày nhưng cũng đủ nhớ nhung.

 Bà Chiên bảo những câu hát xưa cũ lại làm trái tim bà thổn thức như thời con gái. Nhưng cái ngáng trở là tuổi tác của bà đã cao mà “đối tác” thì ai cũng có vợ con rồi. Bởi vậy bà hay hát những câu lỡ dở duyên tình, kiểu như: Từ ngày quen mặt biết tên/Miệng cười tiếng nói chưa quên câu nào/Bây giờ như cá trong ao/Trở ra vướng lưới, trở vào vướng câu.

 Trước khi ông Lợi bắt tay từng người, tạm biệt Quảng Ninh để về bên kia biên giới, bà Lộc, bà Chiên không ai bảo ai bỗng cất giọng hát: Chàng về cứ việc mà về/Chàng ơi đừng nhớ đến thiếp lại mơ tinh thần/Nơi đây quán Sở lầu Tần/Xin chàng giữ lấy mối tình đôi ta.

 Nghe họ hát, tôi chợt nghĩ đây không chỉ là mối tình của những cặp bạn hát mà là mối tình với cố hương, tình nghĩa của những người cùng chung nguồn cội…

    Trích trong bài “Miên man câu hát lưu dân” của Phạm Học.

                                                                                                        Tô Bỉnh st