CÁCH NHÌN MỚI VỀ ĐỨC ĐỘ, TÀI NĂNG CỦA ĐỨC TÔ HIẾN THÀNH (Phần 1)


               Tượng Đức Tô Hiến Thành tại đền Văn Hiến, Hạ Mỗ, Đan Phượng, Hà Nội (Ảnh TL)

Khi đọc những bài viết về danh nhân Tô Hiến Thành, tôi luôn có suy nghĩ là mọi người tâm đắc và nói về Ngài nhiều nhất câu chuyện Ngài cương quyết tiến cử người có tài năng, đức độ gánh việc nước thay mình lúc lâm chung mà hình như vô tình quên đi (?) tài năng vànhững đóng góp để đời của Ngài với đất nước, đặc biệt là với Triều đình Nhà Lý giai đoạn cuối suy vong. May thay, cuốn sử Đại Việt Sử ký Toàn thư đã ghi lại tường tận những đóng góp to lớn, cùng với những chiến công hào hùng bảo vệ đất nước của Ngài, khi đảm nhận các trọng trách từ Thái bảo (người nuôi dưỡng vua), Thái úy (võ quan quân đội cao cấp nhất), Tể tướng chức quan cao nhất chỉ sau vị vua đang trị vì, có quyền thay vua giải quyết mọi việc về chính sự của quốc gia. Và cao hơn nữa là khi Ngài được phong tước Vương, nhận chức danh Phụ chính đại thần, thậm chí là quyền nhiếp chính sự - thay Vua còn thơ ấu - đảm nhiệm trọng trách chèo lái con thuyền quốc gia. Sau không ít lần nghiền ngẫm các Bộ chính sử nước nhà, người viết cứ trăn trở một câu hỏi: Liệu các thế hệ hậu sinh, ngoài việc dựa vào những thành công trong công cuộc dựng nước và giữ nước, nên chăng có thể căn cứ vào các chức tước, trọng trách được giao phó mà đánh giáđức độ,tài năng và cống hiếncủa các vị anh hùng dân tộc, trong đó có Thái úyTô Hiến Thành hay chăng ?

Để hiểu rõ hơn về sự nghiệp rạng rỡ của danh nhân Tô Hiến Thành, chúng tôi xin cùng độc giả nhắclại thời trẻ và khi bắt đầu sự nghiệp của Ngài.

Tô Hiến Thành sinh ra tại Hạ Mỗ (nay là xã Hạ Mỗ, Đan Phượng, Hà Nội) ngày 22 tháng Giêng năm 1102, có bố mẹ là các cụ Tô Trungvà Nguyễn Thị Đoan, đều là người hiền lành, tử tế, được bà con chòm xóm rất mực ngợi khen.

Ngày bé, Tô Hiến Thành được cha mẹ cho theo học cả văn lẫn võ. Lớn lên, ông trở thành người văn võ toàn tài. Tô Hiến Thành nổi tiếng tài năng tới mức vua Lý Anh Tông cũng biết tên, được đích thân vua cho vời vào cung làm việc. Năm 1138, nhân dịp có khoa thi, Tô Hiến Thành xin vua đi thi và đỗ đạt cao. Chỉ tiếc là khoa thi Tiến sỹ này không được sử sách ghi lại nên đời sau không rõ khoa này có bao nhiêu người đỗ, tên tuổi và quê quán của các vị đỗ Tiến sỹ.

          Như đã trình bày ở trên, cuốn Đại Việt sử ký toàn thư dày 709 trang, chéplại những sự kiện lịch sử Việt Nam suốt từ thời kỳ Kinh Dương Vương khai thiên lập địa đến năm 1656, thì chúng ta cũng phần nào thấy được vai trò, công lao to lớn của Tô Hiến Thành trong lịch sử Việt Nam thể hiện qua số dòng, số trang đã liệt kê dưới đây. 

Danh nhân Tô Hiến Thành xuất hiện lần đầu trong bộ Chính sử Đại Việt Sử ký toàn thư năm 1141, nguyên bản như sau :

Tân Dậu, [Đại Định] năm thứ 2 (1141)...

Mùa đông, tháng 10 ngày mồng 1, (Vua) lại sai (Thái úy Đỗ) Anh Vũ đi  đánh châu Lục Lệnh, bắt được bè đảng của (Thân) Lợi hơn 2.000 người. Lợi trốn sang châu Lạng, Thái phó Tô Hiến Thành bắt được Lợi, giao cho (Đỗ) Anh Vũ đóng cũi giải về kinh sư. Mùa thu, tháng 8, ( Thái úy) Đỗ Anh Vũ chết.

Nhâm Tuất, [Đại Định] năm thứ 3 [1142].

Tháng 12. Tha tội cho đảng Thân Lợi.

Trong sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, các sử gia triều Nguyễn sau khi tra cứu tư liệu cũ, đã bổ sung vào mục này những thông tin mới như sau : “ Trước đây, quan quân bắt được đảng Thân Lợi hơn hai nghìn người, đưa về kinh đô. Nhà vua ngự điện Thiên Khánh, tra hỏi, đã đem chém 20 kẻ đồng mưu và tha cho những người bị ức hiếp mà phải theo, còn hơn 400 người thì bắt đi lưu đày. Đến đây, Tô Hiến Thành nói với nhà vua rằng: "Đảng Thân Lợi nổi loạn, giết nhiều quan quân, bệ hạ chỉ hành hình có 20 người, thực là có lòng nhân đức. Nhưng, xưa kia, vua Nghiêu, vua Thuấn truyền nối trong vòng hơn trăm năm, thế mà số người bị tội chết và bị tội lưu chỉ có bốn tên đầu sỏ gian ác; ngày nay phát lưu đến hàng hơn trăm người, có phải là bản tâm bệ hạ đâu? Tôi xin tha tội cho chúng, để mọi người được nhuần thấm ơn vua, thì lòng nhân đức của bệ hạ không khác gì Nghiêu Thuấn". Nhà vua y theo lời, xuống chiếu tha tội phóng trụ và lưu đày cho đồ đảng Thân Lợi ’’.

Như vậy, khi xuất hiện lần đầu trong bộ chính sử năm 1141, Tô Hiến Thành ở độ tuổi 39 và giữ chức Thái phó, đứng hàng thứ hai trong Tam công (Thái sư, Thái phó, Thái bảo) và là người nuôi dưỡng vua (Anh Tông lúc này mới 5 tuổi) có thể cho thấy Ngài là người đức độ, được các bậc vua tin tưởng giao phó nuôi dạy vua khi thơ ấu hay khi còn là Hoàng Thái tử chờ lên ngôi vua sau này. Tuy nhiên, việc Tô Hiến Thành được cử đi đánh đảng giặc (Thân Lợi) và lập công, thậm chí còn được góp ý cho vua xử lý việc quân sau chiến thắng, cho thấy tầm tư duy chiến lược đáng trân trọng, tài năng trị quốc của Ngài đã lóe sáng từ tuổi 39 này.

Kỷ Mão, [Đại Định] năm thứ 20 (1159)...

Mùa Hạ, Ngưu Hồng và Ai Lao làm phản. Sai Tô Hiến Thành đi đánh, bắt được người và trâu ngựa voi, vàng bạc châu báu rất nhiều.Phong Hiến Thành làm Thái úy.

Canh Thìn, [Đại Định] năm thứ 21 (1160)...

Tháng 2, sai Tô Hiến Thành và Phí Công Tín tuyển dân đinh, người mạnh khỏe thì sung vào quân ngũ. Chọn các tướng hiệu, người nào thông thạo binh pháp, am tường võ nghệ thì chia cho cai quản.

Tân Tỵ, [Đại Định] năm thứ 21 (1161)...

Tháng 11, vua sai Tô Hiến Thành làm Đô tướng, Đỗ An Di làm phó, đem 2

vạn quân đi tuần các nơi ven biển Tây Nam để giữ yên miền biên giới. Vua thân đi tiễn đến cửa Thần Đầu ở Đại An (nay là cửa Thần Phù) mới trở về.

Giáp Thân, [Chính Long Bảo Ứng năm thứ 2] [1164]

Mùa thu, tháng 7.Nhà Tống phong vua làm An Nam Quốc Vương, đổi Giao Chỉ làm An Nam Quốc.

Như vậy là đến 18 năm sau, tên tuổi Tố Hiến Thành mới xuất hiện lại khi ông đánh thắng giặc Ngưu Hống, Ai Lao thu nhiều chiến lợi phẩm và được phong Thái úy - chức võ quan cao nhất của các triều đại phong kiến Việt Nam. Và từ đây, tên tuổi của ông xuất hiện liên tục trong các năm 1161, 1162… Năm 1164, khi ông vẫn giữ chức Thái úy, xảy ra sự kiện Nhà Tống, sau rất nhiều năm trì hoãn đã phải phong vua Lý Anh Tông làm An Nam Quốc Vương, đổi Giao Chỉ làm An Nam Quốc chính thức coi nước An Nam là nước có danh hiệu, có chủ quyền chứ không còn là một châu của Trung Hoa như trước. Ở đây, có thể mạnh dạn đưa ra nhận xét thế này: Việt Nam lúc này đã là một thế lực đủ mạnh về kinh tế, nhất là về quân sự nên Nhà Tống phải lựa chọn quyết định lịch sử như vậy.

Sau đó ít lâu, năm 1167, Sử lại ghi: Mùa thu, tháng 7, (vua) sai Thái úy Tô Hiến Thành đi đánh Chiêm Thành. Tiếp đến, mùa đông, tháng 10, Chiêm Thành sai sứ sang dâng trân châu và sản vật địa phương để xin hoà.(Vua) xuống chiếu cho Tô Hiến Thành đem quân về. Từ đấy nước Chiêm Thành giữ lễ phiên thần, dâng cống không thiếu. Dù không có lời bình luận nào, chúng ta cũng nhận thấy tầm quan trọng của

Chuyến viễn chinh này, của Thái úy Tô Hiến Thành. Cuộc viễn chinh đã dẹp tan mối lo từ các nước nhỏ phía Nam luôn chớp cơ hội quấy nhiễu, và khi lợi thế, họ sẵn sàng mang đại binh vào cướp phá kinh đô Thăng Long, gây nỗi lo thường trực cho quan quân triều đình.

Sau đó 8 năm, năm Ất Mùi, 1175, [Thiên Cảm Chí Bảo] sử ghi:

Mùa Xuân, tháng giêng, sách lập Long Trát làm Hoàng Thái tử, ở Đông cung. Phong Tô Hiến Thành làm Nhập nội kiểm hiệu Thái phó Bình chương Quân quốc trong sự, tước vương, giúp đỡ Đông cung (Thái tử).

Mùa hạ, tháng tư, vua không khỏe, cố gượng sai Tô Hiến Thành ẵm Thái tử mà quyền nhiếp chính sự. 

Mùa thu, tháng 7, ngày Ất Tỵ, vua băng ở điện Thụy Quang. Trước đó, khi vua ốm nặng, Hoàng hậu lại xin lập Long Xưởng, vua nói: "Làm con [16b] bất hiếu còn trị dân sao được". Di chiếu cho Tô Hiến Thành giúp rập Thái tử, công việc quốc gia nhất nhất tuân theo phép cũ. Bấy giờ Thái hậu muốn làm việc phế lập, sợ Hiến Thành không nghe, mới đem vàng bạc đút cho vợ là Nữ thị. Hiến Thành nói: "Ta là đại thần nhận mệnh tiên đế dặn lại giúp rập vua bé, nay lấy của đút mà làm việc phế lập thì còn mặt mũi nào trông thấy Tiên đế ở suối vàng?". Thái hậu lại gọi Hiến Thành đến dỗ dành trăm cách. Hiến Thành trả lời: "Làm việc bất nghĩa mà được giàu sang, kẻ trung thần nghĩa sĩ đâu có vui làm, huống chi lời của Tiên đế còn ở bên tai, điện hạ lại không nghe việc của Y Doãn, Hoắc Quang hay sao? Thần không dám vâng chiếu". Việc bèn thôi.       

                                                                     PGS, TS Tô Lê Cường (Sưu tầm và biên soạn)

----------------

Ghi chú : Những dòng chữ in nghiêng là trích từ nguyên bản Bộ Đại Việt Sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử Thông giám cương mục.