
Không chỉ để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Đại Việt với tư cách một vị đại thần, nhà quân sự và Phụ chính tài năng, Tô Hiến Thành còn được Hồ sơ khoa học nhìn nhận qua một phương diện đặc biệt: những đóng góp đối với quan hệ của Đại Việt với các quốc gia trong khu vực ở thế kỷ XII. Từ bang giao với nhà Tống ở phương Bắc, ứng xử với Chiêm Thành ở phía Nam đến sự phát triển của thương cảng Vân Đồn, các tư liệu được dẫn trong Hồ sơ khoa học cho thấy một tư duy coi trọng sức mạnh quốc gia nhưng đồng thời đề cao ngoại giao, hòa hiếu và giao thương.
Ngoại giao mềm dẻo để nâng cao vị thế Đại Việt
Mở đầu mục 6.1 “Ảnh hưởng đương thời ở các nước khu vực”, Hồ sơ khoa học nhận định rằng bên cạnh những chính sách về kinh tế, quân sự, văn hóa và giáo dục nhằm làm cho Đại Việt vững mạnh, Đại thần Phụ chính Tô Hiến Thành còn chú trọng chính sách đối ngoại mềm dẻo và sách lược ngoại giao khôn khéo trong quan hệ với các nước láng giềng. Mục tiêu được Hồ sơ khoa học khái quát là nâng cao vị thế Đại Việt, duy trì ổn định khu vực, thúc đẩy sự hiểu biết giữa các dân tộc và hòa bình.
Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận vai trò của Tô Hiến Thành không chỉ trong khuôn khổ nội trị của triều Lý, mà còn trong bối cảnh quan hệ giữa Đại Việt với các quốc gia láng giềng đương thời.
Với nhà Tống: từng bước khẳng định vị thế của Đại Việt
Theo Hồ sơ khoa học, trong quan hệ với phương Bắc, Đại Việt dưới triều Lý về hình thức vẫn duy trì quan hệ bang giao với nhà Tống. Các vua Đại Việt trước đó thường được triều Tống phong các tước hiệu như Giao Chỉ quận vương, Giao Châu quận vương rồi Trấn Nam Vương, Nam Bình Vương.
Đến thời vua Lý Anh Tông, trong giai đoạn Tô Hiến Thành giữ trọng trách trong triều, quan hệ này có một dấu mốc đáng chú ý. Hồ sơ khoa học dẫn Tống sử, quyển 488, phần Giao Chỉ:
“Tháng 2 năm Thuần Hy thứ nhất [1174] tiến phong Thiên Tộ An Nam Quốc vương, gia hiệu Thủ khiêm công thần; năm thứ 2 [1175] ban An Nam quốc ấn; năm thứ 3 [1176] ban cho nước An Nam lịch thư, cùng năm Thiên Tộ mất.”
Như vậy, theo chính sử nhà Tống được Hồ sơ khoa học dẫn lại, năm 1174 vua Lý Anh Tông - Lý Thiên Tộ - được phong An Nam Quốc vương, sau đó được ban quốc ấn. Hồ sơ khoa học xem đây là một biểu hiện đáng chú ý về vị thế của Đại Việt trong quan hệ bang giao thời kỳ này.
Đánh giá vai trò của Tô Hiến Thành trong bối cảnh ấy, Hồ sơ khoa học dẫn nhận định của sử gia Ngô Thì Sĩ trong Đại Việt sử ký tiền biên:
“…Hiến Thành được dự chính quyền, giúp đỡ bên trong, chạy vạy bên ngoài, trung thành lo lắng […]. Luyện kinh giảng võ, chọn tướng sai sứ khiến cho Chiêm Thành phải giữ lễ phiên thần, nhà Tống phải phong là nước lớn, triều đình sáng sủa, biên giới yên lành…”
Đây là nhận xét của một sử gia đời sau, nhưng có ý nghĩa trong việc cho thấy cách sử học truyền thống đánh giá vai trò của Tô Hiến Thành đối với cả nội trị lẫn bang giao của Đại Việt.
Với Chiêm Thành: ưu tiên ngoại giao thay cho chiến tranh
Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của mục 6.1 trong Hồ sơ khoa học là cách Tô Hiến Thành xử lý quan hệ với Chiêm Thành.
Theo Hồ sơ khoa học, năm 1166, quân Chiêm Thành dùng “quân phong thủy” vượt biển, cướp bóc dân cư ven biển Đại Việt rồi rút về. Tô Hiến Thành được cử đi xử lý tình hình. Tuy nhiên, thay vì vội vàng tiến hành một cuộc giao tranh, Hồ sơ khoa học nhấn mạnh ông đã lựa chọn biện pháp ngoại giao.
Hồ sơ khoa học dẫn Khâm định Việt sử thông giám cương mục:
“Hiến Thành đem quân đến nước Chiêm, đưa thư cho chúa Chiêm, quở trách về việc không giữ lễ phiên thần, lại tỏ bày sự lợi hại để chiêu dụ. Chúa Chiêm sợ, sai sứ sang dâng châu báu… để xin hòa.”
Chi tiết này rất đáng chú ý. Tô Hiến Thành vẫn đưa quân đến để thể hiện sức mạnh và khả năng bảo vệ quốc gia, nhưng trước khi sử dụng vũ lực lại lựa chọn thư từ, thuyết phục và gây sức ép ngoại giao để giải quyết xung đột. Kết quả theo sử liệu được Hồ sơ khoa học dẫn là phía Chiêm Thành cử sứ sang xin hòa.
Hai tác giả Đỗ Thị Thùy Lan và Đỗ Thị Hương Thảo, trong bài Viết nên một danh nhân: Tô Hiến Thành trong sử liệu thành văn, được Hồ sơ khoa học trích dẫn, cho rằng cách xử trí đó thể hiện “uy danh, nhân nghĩa” của vị Thái úy và có sự nhất quán với cách hành xử nhân văn của ông trong những sự kiện trước đó.
Hồ sơ khoa học còn dẫn công trình của học giả người Pháp Georges Maspéro, Le Royaume de Champa (Vương quốc Champa), xuất bản năm 1928. Theo đoạn được Hồ sơ khoa học trích, năm 1167, khi Tô Hiến Thành được giao chỉ huy một cuộc hành quân sang Chiêm Thành, ông “không vội giao tranh” mà gửi thư quở trách vua Chiêm, nhắc lại những thiệt hại đã gây ra. Phía Chiêm Thành sau đó cử đại thần mang lễ vật đến xin hòa; vua Lý Anh Tông chấp nhận và Tô Hiến Thành thu quân về nước.
Nguồn được Hồ sơ khoa học ghi cụ thể: Georges Maspéro (1928), Le Royaume de Champa, G. Van Oest, Paris & Bruxelles, tr. 161.
Nếu đặt sự kiện trong bối cảnh Đông Nam Á lục địa thế kỷ XII, khi quan hệ giữa Đại Việt, Chiêm Thành và Chân Lạp thường xuyên có những biến động quân sự, lựa chọn giải quyết căng thẳng bằng ngoại giao có ý nghĩa không nhỏ đối với việc hạn chế xung đột và ổn định vùng biên phía Nam.
Chính Hồ sơ khoa học nhận định rằng các hoạt động quân sự và ngoại giao của Tô Hiến Thành không chỉ có ý nghĩa bảo đảm an ninh, phòng thủ quốc gia Đại Việt mà còn góp phần duy trì trật tự trong quan hệ Việt - Chiêm và hòa bình trong khu vực.
Vân Đồn - từ cửa ngõ thương mại đến không gian giao lưu khu vực
Ảnh hưởng khu vực trong thời Tô Hiến Thành không chỉ thể hiện qua quan hệ chính trị và ngoại giao. Mục 6.1 của Hồ sơ khoa học dành một phần riêng cho thương cảng Vân Đồn, với tiêu đề: “Thương cảng Vân Đồn là trung tâm giao thương biển, tăng cường sự hiểu biết văn hóa giữa các nước trong khu vực.”
Hồ sơ khoa học cho rằng Tô Hiến Thành là một trong những người góp công trong việc xây dựng, phát triển và ổn định “trang Vân Đồn” dưới triều Lý Anh Tông. Đồng thời, Hồ sơ khoa học dẫn nhận định của PGS.TS Nguyễn Văn Kim:
“Vân Đồn chính là nơi hội tụ của các thương nhân quốc tế, điểm giao hòa các truyền thống văn hóa, sắc tộc.”
Nhận định này cho thấy ý nghĩa của Vân Đồn vượt ra ngoài chức năng của một bến cảng thuần túy. Thương nhân từ nhiều vùng đến đây không chỉ trao đổi hàng hóa mà còn tạo nên sự tiếp xúc giữa con người, văn hóa và các mạng lưới thương mại của khu vực.
Ở phần trước của Hồ sơ khoa học, nguồn của nhận định này được ghi rõ là công trình của PGS.TS Nguyễn Văn Kim, “Thương cảng Vân Đồn và quan hệ ngoại thương thời Lý”, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học 1000 năm Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long, NXB Thế giới, Hà Nội, 2009, tr. 518-545. Tác giả còn nhận định Vân Đồn đã “thực sự trở thành thương cảng mang tính khu vực”.
Một dấu ấn của tư duy giữ nước bằng cả sức mạnh và hòa hiếu
Từ những tư liệu được tập hợp trong Hồ sơ khoa học có thể thấy, dấu ấn đương thời của Tô Hiến Thành đối với khu vực không nên chỉ nhìn qua những cuộc hành quân hay hoạt động quân sự. Nổi bật hơn là sự kết hợp giữa củng cố sức mạnh quốc gia với sử dụng ngoại giao, giữ quan hệ hòa hiếu và phát triển giao thương.
Với nhà Tống, Đại Việt từng bước nâng cao vị thế trong quan hệ bang giao. Với Chiêm Thành, khi có điều kiện sử dụng vũ lực, Tô Hiến Thành vẫn lựa chọn gửi thư, phân tích lợi hại và tạo cơ hội cho đối phương xin hòa. Với Vân Đồn, quá trình phát triển một thương cảng quốc tế đã góp phần đưa Đại Việt tham gia sâu hơn vào mạng lưới giao thương của khu vực.
Hồ sơ khoa học khái quát rằng, với tư duy và tầm nhìn của mình, Tô Hiến Thành góp phần đưa Đại Việt bước vào một vị thế mới của một quốc gia độc lập trong khu vực Đông Nam Á. Đây là nhận định của Hồ sơ khoa học, cần được hiểu trong phạm vi những sử liệu và công trình nghiên cứu mà tài liệu đã dẫn chứng.
Qua hơn tám thế kỷ, giá trị đáng chú ý từ những sự kiện ấy vẫn là bài học về sự kết hợp giữa nội lực quốc gia, bản lĩnh bảo vệ chủ quyền và nghệ thuật ngoại giao hòa hiếu. Đó cũng là một phương diện quan trọng để tiếp tục nghiên cứu và giới thiệu sâu hơn về cuộc đời, sự nghiệp của Danh nhân Tô Hiến Thành trong tiến trình lịch sử Việt Nam và trong quan hệ với các quốc gia khu vực.
Nguồn tư liệu được Hồ sơ khoa học dẫn
• Tống sử, quyển 488, mục Giao Chỉ.
• Ngô Thì Sĩ, Đại Việt sử ký tiền biên.
• Khâm định Việt sử thông giám cương mục.
• Đỗ Thị Thùy Lan - Đỗ Thị Hương Thảo, “Viết nên một danh nhân: Tô Hiến Thành trong sử liệu thành văn”.
• Georges Maspéro (1928), Le Royaume de Champa, G. Van Oest, Paris & Bruxelles, tr. 161.
• PGS.TS Nguyễn Văn Kim, “Thương cảng Vân Đồn và quan hệ ngoại thương thời Lý”, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học 1000 năm Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long, NXB Thế giới, Hà Nội, 2009, tr. 518-545.
Ghi chú về nguồn: Bài viết sử dụng thông tin và cách dẫn nguồn theo mục 6.1 của Hồ sơ khoa học nêu trên. Các nhận định được trình bày trong phạm vi những sử liệu và công trình mà Hồ sơ khoa học trích dẫn; không mở rộng thành các khẳng định như “Tô Hiến Thành có ảnh hưởng đến toàn Đông Nam Á” hoặc “được các nước trong khu vực tôn vinh” khi Hồ sơ khoa học chưa cung cấp chứng cứ tương ứng.
B
- Họa sĩ Tô Dự Sống và vẽ trong yêu thương
- Thiếu tướng Tô Anh Dũng làm Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa
- Đồng chí Lê Giản - Giám đốc Nha Công an Trung ương ngày ấy: Luôn nhớ lời Bác dặn: “thiết diện, vô tư”
- Tô Bá Ngọc với phong trào Cần Vương xứ Nghệ
- TÔ PHẠM PHÚ XUYÊN
- Tô Ký (1919-1999): Nho tướng nghĩa hiệp thu phục giang hồ hảo hán
- Người Anh hùng bước ra từ trang sách
- CỤ TÔ GĨ (Lê Giản)
- ÔN LẠI THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP VÀ ĐẠO ĐỨC SÁNG NGỜI CỦA ĐỨC THÁI PHÓ TÔ HIẾN THÀNH
- Danh họa Tô Ngọc Vân: Một đời tài hoa, giản dị
- Bảng tra Các chức quan, phẩm tước, học vị thời phong kiến Việt Nam
- Lễ báo công truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND đồng chí Tô Quyền
- Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” và nhà thơ Lê Anh Xuân
- Thuỷ Tổ Họ Tô Việt Nam là ai?
- Đất nước và người mẹ trong thơ Tạ Hữu Yên
- ANH HÙNG “MÌN GẠT”
- VÀI NÉT VỀ QUAN HỆ DÒNG HỌ TRONG CỘNG ĐỒNG LÀNG XÃ HIỆN NAY.
- Ai soạn thảo “Bản thông cáo số 1” của Bộ Tư lệnh Quân giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định ngày 30-4-1975?
- BÀI PHÁT BIỂU TẠI LỄ ĐÓN NHẬN BẰNG XẾP HẠNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ ĐÌNH THUẦN LƯƠNG CỦA NHÀ SỬ HỌC LÊ VĂN LAN
- LỚP TRƯỞNG TÔ HIỆP NHỚ VỀ LỚP ĐỆ NHẤT B “ĐẶC BIỆT”
Đang online : 9
Hôm nay : 913
Tháng hiện tại : 15478
Tổng lượt truy cập : 3735899