Câu 1: Thưa ông, xin ông giới thiệu khái quát về cuộc đời của danh nhân Tô Hiến Thành. Theo ông, điều gì làm nên uy tín của Tô Hiến Thành trong triều đình?
Trả lời:
Tô Hiến Thành sinh ngày 22 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (1102), là con ông Tô Trung, quê ở phường Thái Hòa, thành Thăng Long và bà Nguyễn Thị Đoan, quê ở hương Ô Diên, quận Vĩnh Khang. Ông Tô Trung thời trẻ sống ở quê vợ tại hương Ô Diên, sau làm quan ở Thanh Hóa; khi cáo lão hồi hưu lại “về chốn tổ Ô Diên”. Từ thân phụ đến Đức Tô rồi con cháu cũng sống ở Ô Diên, nên có thể nói Tô Hiến Thành quê ở Ô Diên. Ông sinh ra ở phủ Trường Yên, tỉnh Ninh Bình, lúc ông Tô Trung làm Phủ doãn phủ Trường Yên. Ninh Bình khi đó là ngoại trấn của Thanh Hóa, nên có thể coi Tô Hiến Thành gắn bó với Thanh Hóa.
Thuở nhỏ, ông sống ở Ô Diên, được cậu ruột là Thiền sư Nguyễn Trí Bảo hết lòng dạy dỗ. Lớn lên, ông sống và theo học ở Thanh Hóa, nơi ông Tô Trung làm quan.
Ông đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) năm Mậu Ngọ (1138) đời Lý Anh Tông.
Gần 60 năm phục vụ 3 triều vua Lý (Thần Tông, Anh Tông, Cao Tông), ông có đóng góp to lớn cho triều đình nhà Lý, đặc biệt về mặt quân sự và chính trị.
Về quân sự, ông bắt sống tướng giặc Thân Lợi, từ đó đánh tan cuộc phản loạn của Thân Lợi; dẹp loạn Ngưu Hống; đuổi xâm lược Ai Lao; đánh giặc Chiêm Thành. Ông đã giữ vững hai triều vua Lý là Anh Tông và Cao Tông, giữ yên bờ cõi nước Đại Việt.
Năm 1159, do đánh thắng Ngưu Hống và Ai Lao, ông được phong chức Thái úy – chức quan võ cao nhất triều đình.
Về chính trị, năm 1175, Anh Tông ốm nặng đã ủy thác ông phò tá Thái tử Long Trát mới 3 tuổi lên ngôi vua là Lý Cao Tông. Ông đã đấu tranh kiên quyết với Lê Thái hậu – lúc đó thế lực còn mạnh – âm mưu phế bỏ Long Trát, lập lại Long Xưởng là con trai của Lê Thái hậu, do phạm tội tư thông với cung phi của Lý Anh Tông nên đã bị phế làm thứ dân.
Mặc dù Lê Thái hậu tìm mọi thủ đoạn, từ dùng quyền lực ép buộc đến mang vàng bạc đút lót cho phu nhân của ông là Lã Thị Dung, rồi ban yến tiệc để mua chuộc các quan, nhưng ông kiên quyết chối từ. Các quan noi gương và nghe theo lời ông, nên Lê Thái hậu phải thôi.
Khi ông ốm nặng, Đỗ Thái hậu – mẹ của Cao Tông – đến thăm và hỏi ông: “Nếu ông có mệnh hệ gì thì ai là người thay ông?”. Ông đã tiến cử quan Gián nghị đại phu Trần Trung Tá mà không đề cử quan Tham tri chính sự Võ Tán Đường – người ngày đêm hầu hạ thuốc thang cho ông – với câu nói nổi tiếng được ghi vào sử sách: “Vì Thái hậu hỏi người nào thay tôi nên tôi nói là Trung Tá. Nếu hỏi người hầu nuôi thì không phải Tán Đường còn ai nữa?”.
Đánh giá sự nghiệp chính trị của Tô Hiến Thành, sử thần Ngô Sĩ Liên đã có lời bàn: “Tô Hiến Thành nhận việc ký thác con côi, hết sức trung thành, khéo xử trí khi biến cố, như cột đá giữa dòng, tuy bị sóng gió lay động, vỗ đập mà vẫn đứng vững không chuyển, khiến trên yên, dưới thuận, không thẹn với đại thần đời xưa. Huống chi đến lúc sắp chết, còn vì nước tiến cử người hiền, không vì ơn riêng”.
Ông được Lý Anh Tông phong chức Nhập nội Kiểm hiệu Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự – chức quan văn cao nhất triều đình, chỉ sau vua. Ông được phong là Trung Tiết vương, là một trong hai người không phải hoàng tộc nhà Lý được phong tước vương.
Ông mất ngày 12 tháng Sáu năm Kỷ Hợi (1179), hưởng thọ 78 tuổi. Vua Lý Cao Tông bớt ăn 3 ngày, nghỉ thiết triều 6 ngày để tỏ lòng thương tiếc.
Các sử gia Phan Huy Chú và Ngô Thì Sĩ đã chọn trong hàng ngũ đại thần các triều vua Lý 4 người có nhiều công lao nhất là Lý Đạo Thành, Lê Bá Ngọc, Tô Hiến Thành, Đỗ Kính Tu. Cả hai ông đều cho là trong 4 người đó thì Tô Hiến Thành là hơn hết.
Ông có uy tín cao với các quan trong triều là do tài năng và đức độ.
Về tài năng thì trong ông hội đủ 4 lĩnh vực đều ở tầm xuất sắc: nhà quân sự, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hóa. Về kinh tế, ông là người đầu tiên xây dựng chiến lược biển của nước Đại Việt để bảo vệ đất nước và mở rộng giao thương với nước ngoài. Ông là người đề ra và thực thi chiến lược lấn biển, mở rộng đất sản xuất nông nghiệp, tạo nên những vùng dân cư trù phú ven biển. Đây chính là những pháo đài vững chắc bảo vệ bờ biển nước ta.
Về văn hóa, với việc xin xây miếu thờ riêng Khổng Tử, ông đã dựng ngọn cờ tư tưởng, tôn đạo Nho là quốc giáo, lấy giáo lý Khổng – Mạnh về trung quân, ái quốc để giáo dục dân trí, coi đó là liều thuốc tinh thần, góp phần ổn định trật tự xã hội.
Về đạo đức, ông là người trung quân, ái quốc, thanh liêm, cương trực, không sợ cường quyền, không ham của cải vật chất, hết lòng thương yêu nhân dân và binh sĩ.
Câu 2: Xin ông cho biết những phẩm chất nào của danh nhân Tô Hiến Thành được xem là tiêu biểu cho đạo đức của một vị quan?
Trả lời:
Theo quan điểm của thời phong kiến, đạo đức của một vị quan có thể gói gọn trong 10 chữ: trung (với) vua, yêu nước, thương dân, thanh liêm, cương trực. Ở Tô Hiến Thành hội tụ cả 5 phẩm chất đó và 5 phẩm chất đó hòa quyện với nhau trong một thể thống nhất, như đã biến thành máu thịt trong con người ông.
Tất cả việc làm của ông đều thể hiện lòng trung thành với nhà vua là Lý Anh Tông, nhưng tiêu biểu nhất là ông đã tuân theo di chiếu và sự ủy thác của Lý Anh Tông, phò tá Thái tử Long Trát mới 3 tuổi lên ngôi vua và giữ yên ngôi vua của Lý Cao Tông, chống lại âm mưu của Lê Thái hậu (mẹ của Long Xưởng) định phế bỏ Long Trát và lập Long Xưởng lên làm vua. Tuy 4 năm sau, ông ốm nặng và qua đời, nhưng từ cơ sở ban đầu vững chắc đó, Lý Cao Tông đã ngồi trên ngai vàng được 35 năm (1175–1210).
Lòng yêu nước của Tô Hiến Thành thể hiện trong mọi việc làm của ông, nhưng được thể hiện rõ nhất trong vai trò là một võ tướng. Trong 57 năm phục vụ dưới 3 triều vua Lý (Thần Tông, Anh Tông, Cao Tông), thì trong đó có đến 40 năm ông là võ tướng. Ông đã tham gia đánh Đông, dẹp Bắc, dẹp thù trong, đánh giặc ngoài để giữ vững ngôi vua, giữ yên bờ cõi nước Đại Việt, trong đó tiêu biểu là:
Từ năm 1138 đến năm 1142 dẹp giặc Thân Lợi. Năm 1141, ông bắt sống được Thân Lợi, đóng cũi giải về kinh đô trị tội. Giặc Thân Lợi phải tan.
Năm 1159, Ngưu Hống và Ai Lao làm phản. Vua sai Tô Hiến Thành đi đánh, bắt được người và trâu, ngựa, voi, vàng bạc, châu báu rất nhiều. Ông được phong chức Thái úy – chức quan võ cao nhất triều đình.
Năm 1167, khi đã 65 tuổi, ông được Lý Anh Tông phong làm Thượng tướng quân kiêm Tham tán nhung vụ, đem 10 vạn quân đi đánh Chiêm Thành. Chỉ hơn 1 tháng đã đánh thắng như chẻ tre, bắt sống tướng Ma Lôi, chém ngay tại trận. Vua Chiêm phải trốn về nước, sai sứ sang xin hòa. Từ đấy, Chiêm Thành “lại giữ lễ phiên thần, dâng cống không thiếu” và trong một thời gian dài sau đó không dám đem quân quấy nhiễu biên giới phía Nam của nước Đại Việt.
Vì thương dân, ông đã đề ra và tự mình thực thi chiến lược lấn biển để mở rộng diện tích đất nông nghiệp, mở ra hàng loạt khu dân cư ven biển từ Hải Phòng đến Hà Tĩnh.
Cũng vì thương dân, khi được nhà vua phong đất, ông không đành lòng lấy đất ở những nơi “bờ xôi ruộng mật” thuộc sở hữu của nông dân mà thường nhận ở những nơi hoang hóa, rồi đưa con cháu, họ hàng đến đó khai khẩn làm ăn, với lời khuyên “khứ thị phát, lưu thị mạt”, có nghĩa là “đi thì được giàu sang, ở lại thì chịu nghèo hèn”.
Ông đã nêu cao tấm gương thanh liêm, cương trực khi Lê Thái hậu muốn làm việc phế lập, sợ Hiến Thành không nghe, đã đem vàng bạc đút lót cho phu nhân Lã Thị Dung. Tô Hiến Thành bảo vợ: “Ta là đại thần nhận mệnh Tiên đế dặn lại giúp vua bé, nay lấy của đút mà bỏ vua nọ, lập vua kia thì còn mặt mũi nào trông thấy Tiên đế ở dưới suối vàng?”. Thái hậu lại gọi ông đến dỗ dành trăm cách. Ông trả lời: “Làm việc bất nghĩa mà được giàu sang, kẻ trung thần nghĩa sĩ có vui làm đâu. Thần không dám vâng lời dạy”. Mặc dù thế lực lúc đó còn rất mạnh, Thái hậu phải thôi.
Câu 3: Xin ông phân tích về vai trò của danh nhân Tô Hiến Thành với danh tiếng của dòng Họ Tô.
Trả lời:
Trước cuộc hội thảo “Danh nhân Tô Hiến Thành – Cuộc đời và sự nghiệp” ở huyện Đan Phượng năm 1997, người Họ Tô trong cả nước hầu như chưa có mối quan hệ gì với nhau. Cuộc hội thảo đã cung cấp nhiều thông tin về công lao to lớn cũng như đạo đức sáng ngời của danh nhân Tô Hiến Thành.
Họ Tô Việt Nam có một số người tham dự hội thảo như Giáo sư Tô Ngọc Thanh, quê ở làng Xuân Cầu, tỉnh Hưng Yên, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam; Trung tá Tô Hoàn, quê ở huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, công tác ở Tỉnh đội Hà Tây. Cảm phục trước tấm gương của Tô Hiến Thành, hai ông đã nhen nhóm ý tưởng đi tìm để chắp nối dòng Họ Tô Việt Nam.
Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 12 tháng Sáu năm Mậu Dần (3/8/1998), nhân ngày giỗ lần thứ 819 Đức Tô Hiến Thành, hơn 150 đại biểu của 21 chi họ Tô thuộc 12 tỉnh, thành phố ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ đã về đền Văn Hiến, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội dâng hương tưởng niệm; sau đó về đình Vạn Xuân cùng xã dự cuộc tọa đàm và quyết định thành lập Ban liên lạc Họ Tô Việt Nam.
Như vậy, việc thành lập Ban liên lạc (nay là Hội đồng) Họ Tô Việt Nam đã gắn liền với ngày giỗ và diễn ra ngay trên quê hương của danh nhân Tô Hiến Thành.
Biết rõ Tô Hiến Thành chưa phải là Thủy tổ Họ Tô Việt Nam vì Người sinh vào đầu thiên niên kỷ II, nên Họ Tô Việt Nam suy tôn Người là biểu tượng tinh thần để tập hợp dòng họ, với khẩu hiệu “Chắp nối dòng họ – Tìm về cội nguồn”.
Tấm gương sáng của Đức Tô Hiến Thành có tác động mạnh mẽ đến việc tập hợp dòng họ. Trong 17 năm (1998–2015), Ban liên lạc Họ Tô Việt Nam đã chắp nối được hầu hết các chi họ (khoảng 450 chi họ) ở 49/64 tỉnh, thành phố trong cả nước có đông người Họ Tô sinh sống, đồng thời thành lập được 26 Ban liên lạc (nay là Hội đồng) Họ Tô tỉnh, thành phố, làm cho Họ Tô Việt Nam trở thành một cộng đồng vững mạnh, có tổ chức chặt chẽ và rộng khắp từ cơ sở đến toàn quốc.
Mỗi năm hai lần, Hội đồng Họ Tô Việt Nam lấy ngày sinh (22 tháng Giêng) và ngày mất (12 tháng Sáu) của Đức Tô Hiến Thành để họp mặt bà con Họ Tô cả nước; có năm trên 1.000 người về dự, trong niềm tự hào về danh nhân của dòng họ và cũng là dịp giao lưu, thắt chặt nghĩa tình họ tộc.
Hội đồng Họ Tô Việt Nam đã xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp, hiếm có với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Hạ Mỗ, nay là xã Ô Diên. Người Họ Tô coi Ô Diên là quê hương thứ hai của mình và nhân dân xã Ô Diên cũng coi người Họ Tô như người nhà, người làng.
Hội đồng Họ Tô Việt Nam đã nghiên cứu trong thư tịch và tổ chức các chuyến điền dã, tìm được 47 đình, đền, miếu thờ Đức Tô Hiến Thành ở các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh.
Hội đồng Họ Tô Việt Nam cũng tìm được Thủy tổ là Thần Long Đỗ – Tô Lịch, Thành hoàng thành Thăng Long, và đã tổ chức Lễ suy tôn vào ngày 19/9/2010, nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Một điều đáng mừng là, căn cứ một số thư tịch, phán đoán Đức Tô Hiến Thành có thể là hậu duệ của Thần Tô Lịch, từ đó nối liền mạch lịch sử dòng Họ Tô Việt Nam từ thế kỷ III đến thế kỷ XXI.
Tóm lại, nhờ có Tô Hiến Thành, dòng Họ Tô Việt Nam đã kết nối thành một cộng đồng vững mạnh, được nhân dân cả nước biết đến, đã biết được cội nguồn và lịch sử dòng họ; đồng thời, Hội đồng Họ Tô Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, cung cấp được nhiều thông tin mới, phong phú, đáng tin cậy về Tô Hiến Thành.
Câu 4: Dòng họ có đang lưu giữ những kỷ vật hay sắc phong, hay có địa danh nào liên quan đến Cụ Tô Hiến Thành mà ông có thể chia sẻ câu chuyện đằng sau?
Trả lời:
Dòng họ không có nhà thờ riêng của Cụ Tô Hiến Thành nên không có kỷ vật hay sắc phong của Người. Theo nhiều tài liệu, sau khi Tô Hiến Thành qua đời, có khoảng 200 làng xã đã xây dựng đình, đền, miếu thờ Người. Tuy nhiên, do tác động của thời gian, thiên nhiên và cả con người, số đình, đền, miếu còn lại không nhiều. Trong những năm từ 2010 đến 2015, Họ Tô Việt Nam đã tổ chức nhiều chuyến tổ chức nhiều chuyến điền dã, đến tận nơi để chụp ảnh, sưu tầm thần tích, thần phả, xác định được 47 ngôi đình, đền, miếu thờ Đức Tô Hiến Thành. Nhìn chung, các đình, đền, miếu đều được lập ra để ghi nhớ công ơn của Tô Hiến Thành. Trong đó, có một số di tích gắn với những hoạt động cụ thể của Đức Tô Hiến Thành. Xin liệt kê một số đình, đền tiêu biểu:
1. Vân Hải Linh Từ
Ở núi Ngọc, thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
Năm Kỷ Tị (1149), Tô Hiến Thành và Đỗ An Di tháp tùng Lý Anh Tông đi kiểm tra vùng biển Đông Bắc nước Đại Việt. Khi đến Vân Đồn, thấy núi non bao bọc vùng biển nước sâu, lại thấy tàu thuyền nước ngoài vào tránh trú bão, Tô Hiến Thành đã tâu với Lý Anh Tông cho lập cảng Vân Đồn vào tháng Tám năm đó. Đây được coi là cảng quốc tế đầu tiên của nước Đại Việt, mở ra một vùng buôn bán sầm uất. Để ghi nhớ công ơn, nhân dân đã xây đền thờ vua Lý Anh Tông và hai đại thần.
2. Miếu Ụ (Hải Phòng)
Xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng có 4 làng: Phần, Hà, Tràng Thượng. Ngày trước mỗi làng đều có một đình, trong đó đình làng Thượng được xây ngay trên nền đất bản doanh chỉ huy của Tô Hiến Thành khi đắp đê Ngải Môn Quan năm 1161. Nay các đình làng không còn. Thành hoàng các làng đã chuyển về phối thờ tại Miếu Tràng. Công trình ghi nhớ công việc quai đê lấn biển rất gian khổ của Tô Hiến Thành chỉ còn lại ngôi Miếu Ụ ở xã Dương Am, huyện Vĩnh Bảo, vốn là điếm canh đê do quân lính của Tô Hiến Thành xây dựng để canh gác, tuần phòng mùa bão lũ.
3. Đình Vân Ấp (Ninh Bình)
Là nơi Tô Hiến Thành tuyển binh, luyện quân trước khi xuất quân đánh Chiêm Thành và giành thắng lợi lớn.
4. Đình làng Gạo (Thanh Hóa)
Gắn với hoạt động tuần tra vùng ven biển và biên giới Tây Nam.
5. Đình Ích Vịnh (Hà Nội)
Theo truyền thuyết, đây là nơi nhân dân thờ ông ngay từ khi ông còn sống. Ngoài ra còn có đền Cẩm Đới (Thanh Hóa) – một trong những nơi thờ chính Tô Hiến Thành.
Cụ Tô Bỉnh Cố vấn Hội đồng Họ Tô Việt Nam
- Dấu ấn cuộc phỏng vấn Cụ Tô Bỉnh, 95 tuổi – nhân chứng cao niên trong hành trình tôn vinh Danh nhân Tô Hiến Thành
- GIỮ GÌN NÉT ĐẸP VĂN HÓA KÍNH LÃO –TRỌNG THỌ TRONG DÒNG HỌ TÔ THƯỢNG TẦM
- Dâng hương tưởng niệm 82 năm Ngày mất Nhà cách mạng, Liệt sĩ Tô Hiệu
- LAN TỎA NGHĨA TÌNH – TRỌN ĐẠO HIẾU KÍNH TRONG CÔNG TÁC MỪNG THỌ CỦA HỌ TÔ TỈNH CAO BẰNG
- LỄ TỔNG KẾT CÔNG TÁC TU BỔ, TÔN TẠO DI TÍCH LỊCH SỬ – KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT ĐÌNH VẠN XUÂN
- HỘI ĐỒNG HỌ TÔ VIỆT NAM HOÀN THÀNH BÀN GIAO ĐỒ THỜ TẠI ĐỀN ĐỨC BÀ TÔ THỊ – LAN TỎA GIÁ TRỊ TRI ÂN, ĐOÀN KẾT DÒNG TỘC
- TRANG NGHIÊM LỄ GIỖ TRÒN 185 NĂM CỤ CAO CAO TỔ TÔ CÔNG TỰ ĐÌNH THÁT GẮN KẾT CÁC THẾ HỆ DÒNG HỌ TÔ THƯỢNG TẦM
- ĐẠI HỘI HỌ TÔ NGHỆ TĨNH LẦN THỨ HAI NHIỆM KỲ 2026 – 2030
- ĐẠI HỘI HỌ TÔ TỈNH TUYÊN QUANG NHIỆM KỲ LẦN THỨ NHẤT (2026 – 2030)
- HỘI NGHỊ GIAO LƯU VÀ SÁP NHẬP HỌ TÔ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – BÌNH DƯƠNG – VŨNG TÀU
- Bảng tra Các chức quan, phẩm tước, học vị thời phong kiến Việt Nam
- Lễ báo công truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND đồng chí Tô Quyền
- Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” và nhà thơ Lê Anh Xuân
- Thuỷ Tổ Họ Tô Việt Nam là ai?
- Đất nước và người mẹ trong thơ Tạ Hữu Yên
- ANH HÙNG “MÌN GẠT”
- VÀI NÉT VỀ QUAN HỆ DÒNG HỌ TRONG CỘNG ĐỒNG LÀNG XÃ HIỆN NAY.
- Ai soạn thảo “Bản thông cáo số 1” của Bộ Tư lệnh Quân giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định ngày 30-4-1975?
- BÀI PHÁT BIỂU TẠI LỄ ĐÓN NHẬN BẰNG XẾP HẠNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ ĐÌNH THUẦN LƯƠNG CỦA NHÀ SỬ HỌC LÊ VĂN LAN
- LỚP TRƯỞNG TÔ HIỆP NHỚ VỀ LỚP ĐỆ NHẤT B “ĐẶC BIỆT”
Đang online : 3
Hôm nay : 900
Tháng hiện tại : 22018
Tổng lượt truy cập : 3486972